Pages

Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh. Sống không phải là ký sinh trùng của thế gian, sống để mưu đồ một công cuộc hữu ích gì cho đồng bào tổ quốc. (Phan Chu Trinh )Mở mang dân trí , Chấn động dân khí.Vun trồng nhân tài. Kỳ vọng ở những người làm quan, lấy những sự nghiệp bất hủ khuyên lơn họ được nhiều người xem là có giá trị về phương diện cổ động nhân sĩ và giới cầm quyền có tâm huyết đem tài sức ra giúp nước.(Khi Phan Bội Châu viết tập "Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư" )"Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn và vô trách nhiệm."“Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc [độc lập, tự do] thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng quyết không sợ, huống hồ chúng ta phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền?”“… đối thủ mà các bạn phải tranh đấu về trí tuệ là những người phương Tây. Nếu các bạn thắng trong cuộc đọ sức tri thứ này thì vị thế của nước Nhật Bản sẽ dâng cao trên trường quốc tế. Còn ngược lại, nếu các bạn thua, thì chúng ta, những người Nhật Bản, sẽ mãi mãi thấp kém dưới con mắt người phương Tây.”(Fukuzawa Yukichi) .Tôi tư duy nên tôi hiện hữu; nghĩa là: Vì tôi tư duy nên tôi biết mình hiện hữu.( René Descartes) John Paul II xưng thú tội lỗi tổng quát trong 7 mục sau đây:1. Xưng thú “tội lỗi chung”.2. Xưng thú “tội lỗi trong khi phục vụ “chân lý”.3. Xưng thú “tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”.4. Xưng thú “tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái”.5. Xưng thú “tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”.6. Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”.7. Xưng thú “tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người”

My Blog List

Blogger templates

Socrates (Hy Lạp)

Khi bạn giận dữ, hãy ngậm chặt môi, tránh làm tăng nộ khí của bạn. Người thực sự tài giỏi, chính là người có đủ trí tuệ để giúp đỡ người khác, không để mình bị lừa dối. Socrates (Hy Lạp).

Lão Tử

Hễ còn có lòng ham muốn thì chỉ biết trước được cái hẹp hòi biểu hiện ra bên ngoài chứ không biết được cái vi diện sâu ở bên trong..Ai vâng lời liều, hứa liều, tất nhiên khó lòng đúng hẹn.

Khổng Tử

1.Biết có lỗi mà không sửa thì đó chính là lỗi.2.Người không có chữ tín sẽ chẳng làm nên việc gì. 3.Sự nghiệp chớ nên cầu mong không có chông gai, trắc trở vì không có chúng thì ý chí sẽ không kiên định. 4.Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi. 5.Đừng mong người khác thuận theo ý mình vì nếu được người khác thuận ý sẽ tất sinh tự kiêu..

Đức Phật

Hãy ngừng phán xét, trên nền trời xanh thẳm, chẳng có sự phân biệt Đông - Tây. Chỉ có tâm trí nhầm lẫn của của con người tạo ra sự phân biệt rồi lại tin rằng đó là thật.

Tục Ngữ

Đối với những người không biết làm chủ đầu óc thì sách liệu có mang lại lợi ích gì? Đưa sách cho họ có khác nào đưa chiếc gương cho người mù.

Showing posts with label Lịch sử phương Đông. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử phương Đông. Show all posts

Friday, September 27, 2013

Chế độ Sankin Kotai ở Nhật Bản thời kỳ Edo

CHẾ ĐỘ SANKIN KOTAI Ở NHẬT BẢN THỜI EDO
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN, MỤC TIÊU VÀ CƠ CHẾ
Sankin-Kotai
PGS.TS Nguyễn Văn Kim 
1. Sankin kotai và những mục tiêu chính trị
Khi viết về chế độ phong kiến Nhật Bản thời Edo, các nhà sử học và chuyên gia nghiên cứu lịch sử tư tưởng, kinh tế… đều hết sức chú ý đến chế độ sankin kotai mà Mạc phủTokugawa thực hiện ở Nhật Bản(1). Có thể thấy, sankin kotai là một chính sách lớn của Mạc phủ Tokugawa nhằm thâu tóm quyền lực về chính trị, kiểm soát hoạt động của các lãnh chúa
đồng thời qua đó khẳng định lòng trung thành của các daimyo với tướng quân.
Trải qua hơn 2 thế kỷ, chế độ Bakuhan taisei (Mạc phiên thể chế) trong đó có sankin
kotai luôn diễn ra nhiều vận động và biến đổi nhưng để giữ thế ổn định về chính trị, các
tướng quân Tokugawa luôn tìm cách duy trì và theo đuổi những mục tiêu chiến lược của
mình. Bằng những biện pháp khôn khéo nhưng cũng hết sức cương quyết, Mạc phủ Edo đã
xác lập được sự “cân bằng” tương đối về quyền lực chính trị giữa chính quyền trung ương với
các lãnh chúa địa phương để rồi từ đó xây dựng nên mối quan hệ “tôn chủ – bồi thần” rất điển
hình ở Nhật Bản.
Theo quy định, nhìn chung cứ cách một năm các lãnh chúa lại phải về Edo để diện kiến tướng quân (Tokugawa shogun). Để bảo đảm cho cuộc sống lâu dài và thường xuyên ở
“kinh đô” mỗi lãnh chúa đều phải tự xây dựng cho mình một cơ sở lưu trú riêng. Khi hết thời hạn quy định, các daimyo cùng đoàn tuỳ tùng có thể trở về địa phương nhưng phải để vợ con lại thành Edo. Do vậy, sankin kotai thực chất là chế độ con tin. Các lãnh chúa đã dùng sinh mạng của những người có quan hệ máu thịt và võ sĩ thân tín để bảo đảm đặc quyền và vị thế phong kiến của mình. Mặt khác, thông qua việc thực hiện chế độ sankin kotai, chính quyền trung ương cũng muốn giám sát thường xuyên, trực tiếp với các daimyo, ngăn chặn khả năng nổi dậy đồng thời làm suy giảm sức mạnh quân sự, kinh tế của các lãnh chúa.
Trở lại lịch sử chúng ta thấy, chế độ con tin đã từng xuất hiện rất sớm trong lịch sử một số quốc gia châu Á(2). Ở Nhật Bản, vào thời Chiến quốc (Sengoku jidai: 1494-1600), trong bối cảnh chính trị vô cùng phức tạp, ngay cả những người nắm giữ quyền lực lớn nhất thời bấy giờ như Oda Nobunaga (1534-1582) và Toyotomi Hideyoshi (1536-1598) cũng phải sử dụng chế độ con tin để củng cố mối liên minh quân sự, chính trị. Sau khi nắm được thực quyền ở Nhật Bản, Toyotomi Hideyoshi đã yêu cầu tất cả các lãnh chúa đồng minh, kể cả những daimyo vừa chịu sự thần phục, phải đưa vợ con về Osaka, Kyoto và Nagoya, nơi ông từng đóng đại bản doanh, làm con tin. Cùng với yêu cầu đó, ông còn đề nghị nhiều lãnh chúa
cử binh lực tham gia vào các trận chiến hoặc duy trì an ninh cho khu vực thành Osaka và kinh đô Kyoto. Tháng 9-1589, nhận thức rõ được ưu thế chính trị của mình, Toyotomi Hideyoshi đã yêu cầu tất cả các lãnh chúa đồng minh phải xây dựng cơ sở lưu trú thường xuyên cho “gia đình” gần cung điện Jurakudai tại Kyoto. Đến năm 1590, để bày tỏ sự trung thành của mình, lãnh chúa Date đã là một trong những daimyo tiên phong, tình nguyện đưa hơn 1.000 người gồm vợ con, gia nhân và binh sĩ về thành Fushimi, nơi Hideyoshi lập trướng phủ, để “phục vụ” chủ tướng.
Trong quá trình vươn lên giành đoạt quyền lực chính trị cao nhất ở Nhật Bản, từ tuổi ấu thơ chính Tokugawa Ieyasu cũng từng tham gia vào chế độ con tin và là nạn nhân của chế độ này(3). Lúc trưởng thành, vì những mưu tính lâu dài cho sự nghiệp chính trị, Tokugawa
cũng đã phải đưa sinh mạng của vợ và con trai cả làm “vật chứng” để giữ lòng tin với Oda
Nobunaga. Nhưng sau khi 2 “tam kiệt”(4) qua đời, do xây dựng được một liên minh chính trịmạnh và có những quyết định chính xác nên Tokugawa Ieyasu đã trở thành người đứng đầu tập đoàn võ sĩ có thế lực nhất ở Nhật Bản. Sớm nhận thấy xu thế phát triển của tập đoàn võ sĩ này, từ năm 1596 một số lãnh chúa như Todo Takatora đã tự nguyện thần phục Tokugawa.
Các lãnh chúa nhiều danh vọng như Maeda Toshinaga và Hori Hideharu… ngay trước trận
Sekigahara cũng đã ngả theo tập đoàn Tokugawa. Trong và sau khoảng thời gian đó, các lãnh chúa lớn ở Nhật Bản như: Date, Nabeshima, Hosokawa, Mori và Shimazu từ chỗ là “bề tôi” của Oda Nobunaga rồi Toyotomi Hideyoshi, không còn cách nào khác, đã phải hướng về tập đoàn võ sĩ đang lên ở miền Đông và suy tôn Tokugawa Ieyasu làm chủ soái(5).
Từ kinh nghiệm của những người đứng đầu các tập đoàn võ sĩ lớn, đến lượt mình, trong phạm vi lãnh địa, nhiều daimyo cũng yêu cầu võ sĩ cao cấp thuộc quyền phải đưa vợ con đến lâu đài làm con tin và gánh vác trách nhiệm phong kiến. Tiêu biểu trong số đó là trường hợp của han Kagoshima (Satsuma), vùng Kyushu. Tại lãnh địa này, từ thời Shimazu Iehisa ( -1587) những võ sĩ được hưởng nhiều ruộng đất (shiryo shu) và có thu nhập cao đều phải xây dựng cơ sở lưu trú gần thành Kagoshima. Bản thân họ và gia đình phải thường xuyên sống ở đó và chịu sự giám sát của lãnh chúa. Sau khi Tokugawa Ieyasu giành được chính quyền, trong quá trình thiết lập và thực hiện chế độ sankin kotai, do có nhiều kinh nghiệm thực tế và cũng muốn tranh thủ thiện cảm của shogun, Shimazu luôn là lãnh chúa đi đầu trong việc tuân thủ chế độ này. Năm 1603, mặc dù có nhiều khó khăn về kinh tế nhưng
lãnh chúa Shimazu Yoshihisa (1533-1611) đã là một trong những daimyo đầu tiên đưa vợ, 3
con trai và nhiều võ sĩ thân tín về “kinh đô”. Việc một lãnh chúa ở xa Edo và có thế lực như
Shimazu nhưng đã sớm chịu thần phục chính quyền Tokugawa đã tác động hết sức mạnh mẽ đến thái độ còn nhiều suy tính của không ít lãnh chúa.
Có thể nói, hành động của các lãnh chúa như Maeda, Shimazu… đã có ý nghĩa khai mở, khích lệ nhiều daimyo khác phải sớm đi đến quyết định tham gia và tuân thủ chế độ sankin kotai đồng thời tạo nên những động lực mạnh mẽ để Mạc phủ sớm đi đến thiết chế hoá chế độ này. Trên thực tế, Shimazu không chỉ là một trong những lãnh chúa đầu tiên bày tỏ “trách nhiệm” của mình với chính quyền Edo mà còn là người (thông qua vai trò cố vấn của Ise Sadamasa) đề xuất với Doi Toshikatsu, đại diện của Mạc phủ, về việc cần thiết phải thiết lập một chế độ “phục vụ” bắt buộc đối với tất cả các lãnh chúa. Theo quan điểm của Shimazu Yoshihisa, Mạc phủ cần phải xây dựng một chế độ thần thuộc trên bình diện quốc gia chứ không phải chỉ là sự bày tỏ mối quan hệ và lòng trung thành cá nhân của lãnh chúa. Là người luôn nhạy cảm với những vấn đề chiến lược, đề xuất của Shimazu lập tức được Tokugawa Ieyasu chấp thuận và chính ông đã trọng thưởng cho người đưa ra sáng kiến một con ngựa quý(6).
Bằng nhãn quan của một nhà chính trị dày dạn kinh nghiệm, Tokugawa Ieyasu hiểu rõ sức mạnh của các lãnh chúa đặc biệt là các tozama daimyo, những đặc quyền cố hữu cùng uy
lực của họ ở địa phương. Để cuốn hút các lãnh chúa vào vòng quay của một cơ chế chính trị
mới, ông đã tỏ ra hết sức thận trọng trong các bước đi chính trị. Nhằm phân hoá các lãnh
chúa, Tokugawa Ieyasu đã chia daimyo ra làm ba loại đồng thời thực thi một số chính sách
nhằm ngăn chặn sự liên kết giữa các lãnh chúa. Trong quá trình đi đến xây dựng và thể chế
hoá chế độ sankin kotai, mặc dù hiểu rõ tính hiệu quả của chế độ con tin nhưng chính quyền
Edo vẫn chủ trương coi trọng biện pháp thuyết phục, lôi kéo hơn là dùng bạo lực, cưỡng chế.
Nhằm làm giảm thiểu sự bất bình từ phía các lãnh chúa, Mạc phủ đã công nhận và ban cấp
cho nhiều lãnh chúa nhất là tozama daimyo những vùng đất rộng lớn đồng thời luôn đối xử
với họ một cách trọng thị. Trên thực tế, một số lãnh chúa ngoài việc được nhận tước hiệu cao
quý còn có thể mang họ gốc của nhà Tokugawa là Matsudaira. Trong những năm đầu thời kỳ
Edo, Mạc phủ còn dùng quan hệ hôn nhân để thắt chặt “tình cảm thân thiện” với nhiều lãnh chúa. Mặt khác, các lãnh chúa cũng được khuyên nên sớm đưa gia quyến về Edo và xây dựng cơ sở thứ hai để tiện việc sống ổn định, lâu dài. Bằng những biện pháp đó, “Ngay từ đầu, Mạc phủ đã kiểm soát các lãnh chúa ngoại dạng bằng sự kết hợp giữa chính sách răn đe và ban thưởng để rồi sau đó thắt họ vào sự ràng buộc về chính trị”(7).
Cũng cần phải thấy rằng, sau thắng lợi trong trận Sekigahara năm 1600, nhằm củng cố liên minh với các lãnh chúa đồng minh, mặc dù Tokugawa Ieyasu chỉ mới quản lý được 30 %
lãnh thổ toàn quốc nhưng ông đã dành hầu hết diện tích đất chiếm được để chia cho các lãnh chúa.
Theo truyền thống của giới võ sĩ đây chính là nguyên tắc thiết yếu, có thể coi là “nguyên tắc máu” để tiếp tục nhận được sự ủng hộ của các lãnh chúa này. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với chính quyền Tokugawa vẫn là nhiều tập đoàn võ sĩ đang thực sự nắm quyền lực ở các địa phương. Sự liên kết giữa các lực lượng này để chống lại chính quyền mới được thiết lập ở Edo là một mối nguy thực tế. Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Tokugawa Ieyasu là phân hoá và làm suy yếu lực lượng của các daimyo. Ông đã thuyên chuyển nhiều lãnh chúa vùng đồng bằng Kanto và khu vực Kyoto-Osaka về miền Tây Nhật Bản. Tại những khu vực đó, Mạc phủ đặt sự quản lý trực tiếp hay giao phó quyền quản lý cho một số lãnh chúa tin cậy. Đến thời tướng quân Tokugawa Hidetada (1579-1632) và Tokugawa Iemitsu (1603-1651), hai ông vẫn tiếp tục chính sách thuyên chuyển, tịch thu đất đai của các lãnh chúa để thiết lập một thiết chế chính trị mới bảo đảm an ninh chiến lược cho chính quyền Edo.
Về phần mình, do lo sợ bị tịch thu ruộng đất, thuyên chuyển hay cắt giảm lãnh địa… các lãnh chúa đã phải bày tỏ thái độ thân thiện, sẵn sàng hợp tác và tuân thủ nhiều chủ trương
của Mạc phủ Edo(8). Tháng 11-1609, tướng quân thứ hai của triều đại Tokugawa là Hidetada
(cq: 1605-1623) đã yêu cầu các lãnh chúa phải về Edo vào cuối đông để “đón Xuân”. Đây
được coi là sự kiện mở đầu cho việc thực hiện chế độ bắt buộc các daimyo phải về Edo diện
kiến tướng quân của chính quyền phong kiến Nhật Bản. Trong bối cảnh chính trị lúc bấy giờ
có thể coi đây là đòn thử nghiệm của tướng quân Tokugawa đối với các lãnh chúa về chủ
trương thiết lập chế độ con tin trước khi đi đến chính thức thực hiện chế độ này. Quyết định
táo bạo đó của chính quyền Edo đã thu được kết quả. Dường như không có một sự chống đối
mạnh mẽ nào từ phía các lãnh địa, năm 1610 nhiều lãnh chúa đã cử con tin về Edo và năm
sau, theo yêu cầu của Mạc phủ, các tozama daimyo đã được triệu tập về cung Nijo ở Kyoto để
tuyên thệ và ký cam kết trung thành với chính quyền Tokugawa.
Sau những thắng lợi chính trị hết sức căn bản đó, Mạc phủ đã có điều kiện tập trung lực lượng để gạt bỏ trở lực chính trị cuối cùng ở miền Tây do Toyotomi Hideyori (1593-1615) đứng đầu. Cuối cùng, bằng chiến thắng quân sự hạ thành Osaka năm 1615, chính quyền Edo đã tiếp tục khẳng định được sức mạnh chính trị trội vượt của mình ở Nhật Bản. Để quản lý các lãnh chúa và võ sĩ chặt chẽ hơn nữa, nhận thấy điều kiện đã chín muồi, tháng 11 năm đó Mạc phủ đã cho ban hành luật “Vũ gia chư pháp độ”(Buke shohato) gồm 13 điều. Bộ luật đã khẳng định những nguyên tắc căn bản trong quan hệ giữa Mạc phủ với các lãnh chúa địa phương cũng như phương châm sống, hành động của đẳng cấp võ sĩ. Điều 9 của Bộ luật
ghi rõ: “Các lãnh chúa về Edo phục vụ (sankin) phải tuân theo các quy định sau: trong Shoku Nihongi đã ghi rõ rằng: Nếu như không được giao phó một trách nhiệm chính thức nào thì bất cứ ai cũng không được tự ý tập trung binh lực. Hơn thế nữa, không ai được phép cho hơn 20 kỵ sĩ cùng đi về kinh đô… Như vậy, từ xưa đã có lệnh cấm tập trung một lực lượng quân đội lớn. Đối với các lãnh chúa có thu nhập từ 200.000 koku cho đến 1.000.000 koku không được phép đưa quá 20 kỵ sĩ đi cùng. Các lãnh chúa có thu nhập từ 100.000 koku trở xuống thì sốlượng kỵ sĩ đi theo phải phù hợp với địa vị của mỗi người. Khi thực hiện nhiệm vụ chung, sốlượng tuỳ tùng cũng phải tương hợp với chức phận của từng lãnh chúa”(9). Sau khi Luật vũ gia ban hành, nội dung bộ luật đã được các lãnh chúa thực hiện
nghiêm cẩn. Trước tình thế đó, từ năm 1615 số lượng các lãnh chúa về Edo trình diện vào
những dịp nhất định trong năm cũng ngày càng tăng lên. Đến năm 1622 đặc biệt là từ sau
năm 1632, thời tướng quân Tokugawa Iemitsu (cq: 1623-1651), Mạc phủ muốn tập trung hơn nữa quyền lực và thể chế hoá mọi hoạt động của chính thể phong kiến nhất là việc quản lý các địa phương. Trong thời gian đó, uy lực của chính quyền Edo đã bao trùm lên hầu khắp
lãnh thổ Nhật Bản nhưng việc đồng thời có nhiều lãnh chúa tập trung về Edo cũng đặt cho
chính quyền Tokugawa phải đứng trước những tình thế chính trị phức tạp. Do vậy, đến năm
1635, trong quá trình bổ sung và hoàn thiện Luật vũ gia, Mạc phủ đã rất coi trọng vấn đề triệu hồi các lãnh chúa. Để thể chế hoá một chủ trương lớn đồng thời tạo ra cơ chế vận hành cho chế độ đó, Mạc phủ tuyên bố: “Luật quy định rằng tất cả các daimyo (đại danh) và shomyo(tiểu danh) đều phải có trách nhiệm lần lượt (kotai) về Edo. Các lãnh chúa phải về Edo phục vụ (sankin) vào mùa hè tức là vào tháng 4 hàng năm. Giờ đây, số lượng các võ sĩ thuộc quyền và tuỳ tùng đi theo lãnh chúa đều đã quá lớn. Điều đó không những gây nên sự hao phí cho các lãnh địa và địa phương mà còn là nguyên nhân dẫn đến sự khốn cùng của dân chúng. Vì vậy, từ nay phải giảm bớt số người về Edo. Trong trường hợp được lệnh về Kyoto cũng phải tuân theo chỉ thị cụ thể. Đối với những công việc chung, số lượng người đi theo cũng cần phải phù hợp với địa vị của mỗi daimyo và shomyo”(10).
Từ những nội dung mang tính nguyên tắc đó, chính quyền Edo đã đi tới khẳng định vị trí độc tôn của mình về chính trị. Thông qua việc chính thức thiết lập chế độ sankin kotai, Mạc phủ cũng muốn loại bỏ truyền thống lưu giữ con tin ở các địa phương. Điều 13 của Luật vũ gia ghi rõ: “Nếu kẻ nào đó tự ý bắt các võ sĩ bên dưới làm con tin thì sẽ bị trừng phạt bằng
tội lưu đày hay xử trảm, sự trừng phạt này chỉ được thực hiện sau khi quy định trên đây được
ban hành. Nhưng nếu như (lãnh chúa nào đấy) thấy cần phải có sự bảo đảm bằng việc lưu giữ con tin thì người đó phải báo cáo cho chính quyền cấp trên (tức Mạc phủ) biết”(11). Trên
thực tế, vì lo sợ bị “tổn thương” trong quan hệ với chính quyền Edo, các lãnh chúa đã mau
chóng huỷ bỏ chế độ con tin vẫn được thực hiện như một phương cách quản lý truyền thống
trong các lãnh địa.
Điều có thể thấy được là, chủ trương thâu tóm quyền lực chính trị của Mạc phủ Tokugawa không chỉ được thực hiện bằng một chính sách đơn biệt. Để tăng cường sức mạnh quân sự, chính trị đồng thời qua đó làm giảm tiềm lực của các lãnh chúa, song song với việc ban hành luật pháp, nắm quyền chủ động trong chính sách đối ngoại… ở trong nước Mạc phủ còn đề ra nhiều kế hoạch như: xây dựng các công trình kiến trúc, phát triển hệ thống giao thông, thuỷ lợi, khai phá đất nông nghiệp trên quy mô lớn… Nhằm khẳng định uy thế và cũng vì sự an toàn của chính mình, ngay sau khi được phong chức tướng quân năm 1603, Tokugawa Ieyasu lập tức có chủ trương xây dựng Edo thành một pháo đài quân sự và trung tâm chính trị có quy mô lớn nhất Nhật Bản. Để thực hiện kế hoạch xây dựng thành, tháng 7-1604 Tokugawa Ieyasu đã ban hành mệnh lệnh yêu cầu các lãnh chúa chuẩn bị nhân lực, khả
năng tài chính, khai thác gỗ, đá và đóng thuyền lớn làm phương tiện vận tải. Mạc phủ quy
định: đối với các lãnh chúa, cứ mỗi 100.000 koku thu nhập thì phải cung cấp 1.120 nhân lực,
bao gồm cả các nhà quản lý, để tham gia việc kiến dựng thành.
Cũng cần phải chú ý là, sau trận Sekigahara mặc dù những người đứng đầu các han
Kagoshima và Choshu đã sớm có những biểu hiện thần phục chính quyền Edo nhưng Mạc
phủ vẫn đặt ra nhiều thử thách với cả 2 lãnh chúa ngoại dạng này. Họ được yêu cầu phải cung cấp người, vật liệu và tiền bạc cho việc xây thành. Theo lệnh của Mạc phủ, ngoài việc phải đóng góp 150 thoi vàng, Shimazu còn phải khẩn trương đóng 300 thuyền có trọng tải lớn và thực hiện hàng nghìn lượt vận chuyển đá từ han Izu về Edo. Mỗi chuyến thuyền trung bình chở được 2 tảng đá và cần đến hàng trăm người để vận chuyển từ núi xuống thuyền và sau đó lại đưa đến địa điểm cần thiết. Đến năm 1629, tuy công việc xây dựng thành đã căn bản hoàn tất nhưng Mạc phủ vẫn huy động 68 lãnh chúa về Edo. Thực hiện kế hoạch tái thiết và mở rộng thành Osaka trong những năm 1620-1630, Mạc phủ cũng đã yêu cầu 64 lãnh chúa tham gia. Kế hoạch đó của chính quyền Edo không chỉ làm suy giảm sức mạnh kinh tế của các lãnh chúa mà còn là sự thể hiện uy lực của chính quyền Edo với các lãnh chúa miền Tây Nhật Bản(12). Ngoài ra, để đắp hệ thống ngăn lũ ở Ise, Mino và Owari hay kiến tạo khu định cư mới cho thị dân nằm giữa Fukagawa và Hibiya gần với vùng Asakusa ở Edo, Mạc phủ cũng đã huy động hàng chục vạn nhân công từ các lãnh địa.
Ngoài những trách nhiệm nêu trên, Mạc phủ còn yêu cầu các lãnh chúa phải thực hiện
nghĩa vụ quân sự (gun’yaku). Trong vụ tấn công hạ thành Osaka năm 1615, các lãnh chúa nếu có thu nhập mỗi 200.000 koku thì phải đóng góp 349 kỵ binh, 700 binh sĩ trang bị súng
trường, 150 lính bắn cung, 300 người mang giáo và 60 người khoẻ mạnh để khuân vác. Đây
cũng là dịp chính quyền Edo thử thách lòng trung thành của lãnh chúa Shimazu. Riêng chiến dịch tấn công hạ thành Osaka, Satsuma được yêu cầu cung cấp 13.800 quân và 500 chiến thuyền. Để trấn áp cuộc nổi dậy của nông dân và các tín đồ Cơ đốc giáo ở Shimabara năm 1637-1638, lãnh địa này cũng phải huy động 11.200 quân và chiếm lĩnh đảo Amakusa làm cứđiểm tập kết binh lực cho liên quân Tokugawa.
Điều cần chú ý là, ngoài những mục tiêu và động cơ chính trị như đã trình bày ở trên thì, như một nguyên nhân tự nhiên, trong quá trình về Edo thực hiện nghĩa vụ xây dựng, khai
hoang, phát triển hệ thống giao thông thuỷ, bộ và công trình thoát nước… các lãnh chúa cũng có điều kiện giao tiếp tương đối thường xuyên với tướng quân và giới quan chức cao cấp của Mạc phủ. Do sự cần thiết phải có sự quyết đoán và thời hạn hoàn tất công trình, các lãnh chúa phải thường xuyên có mặt ở Edo để theo dõi tiến độ thi công và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm với các lãnh chúa khác khi được yêu cầu. Do vậy, đến năm 1635 khi chế độ sankin kotai được chính thức thực hiện thì việc sinh sống thường xuyên ở Edo cũng không phải điều xa lạ đối với nhiều lãnh chúa.
Nhìn lại khung cảnh chính trị và xã hội Nhật Bản trong khoảng 30 năm đầu của thế kỷ XVII chúng ta thấy, với tư cách là chính quyền trung ương Mạc phủ Tokugawa đã đồng thời giải quyết được nhiều vấn đề trọng đại mà lịch sử đặt ra. Các chính sách và chủ trương chiến
lược được thực hiện trong thời gian này đã tạo nên nền tảng thiết yếu cho sự tồn tại và phát
triển của chế độ phong kiến Nhật Bản hơn 2 thế kỷ sau đó. Việc ban hành luật pháp, tịch thu
ruộng đất và thuyên chuyển các lãnh chúa cùng chủ trương nắm độc quyền về ngoại thương… là những minh chứng rõ rệt về sức mạnh của chính quyền Edo. Trên thực tế, “Động lực của tất cả những chính sách đó là để hạn chế tính độc lập của các han, cảnh báo họ về khả năng bị mất lãnh địa, làm suy yếu sức mạnh tài chính bởi sự gánh vác nghĩa vụ và Mạc phủ đã làm cho họ bị cuốn theo, cùng sống chết với chính quyền Tokugawa, làm suy giảm năng lực học thuật, thương nghiệp cũng như tự do trong quan hệ đối ngoại. Nhưng tất cả những chính sách đó vẫn chưa đủ. Quyền tự chủ của các han còn bị kiềm toả bởi chế độ sankin kotai”(13).
2. Nội dung và cơ chế vận hành
Như vậy là, sau hơn 3 thập kỷ vận động và phát triển, đến năm 1635 chế độ sankin kotai đã được chính thức thiết lập ở Nhật Bản. Nhưng ngay trong khoảng thời gian đó thì đối tượng chủ yếu của chế độ sankin kotai vẫn là các lãnh chúa ngoại dạng(14). Ngoài việc muốn loại trừ những mối nguy tiềm ẩn về chính trị hẳn là Mạc phủ cũng thấy đây là các lãnh chúa lớn, giàu có, có khả năng thực hiện nghĩa vụ về Edo. Theo lệnh của tướng quân Tokugawa Iemitsu, các tozama daimyo được chia làm 2 nhóm: nhóm miền Đông và nhóm miền Tây
luân phiên thực hiện chế độ “Luân phiên trình diện”. Để thống nhất, Mạc phủ quy định lấy tháng 4 hàng năm là thời gian luân chuyển giữa hai nhóm. Về tự nhiên, đây là thời điểm
chuyển giao giữa mùa Xuân và mùa Hạ, thời tiết đã bắt đầu ấm dần lên do vậy việc đi lại
cũng bớt phần khó khăn. Ở Nhật Bản, dịp đầu tháng 4 cũng là mùa hoa Anh đào (sakura) nở
rộ.
Thực hiện chủ trương đó, hạ tuần tháng 6 năm 1635, lãnh chúa Maeda và 25 tozama daimyo đã được phép trở về lãnh địa. Thay vào đó, 55 lãnh chúa ngoại dạng từ miền Tây dẫn đầu là Shimazu đã kéo về Edo. Như vậy, mệnh lệnh của Tokugawa Iemitsu đã thể chế hoá chế độ sankin kotai, thống nhất thời gian và số lượng các lãnh chúa về Edo hàng năm. Đây chính là một bước tiến lớn nhằm điển chế hoá chế độ sankin kotai. Theo nhật ký của Richard Cocks, người đứng đầu thương quán Anh ở Hirado (1616-1621) thì năm 1616 chính Hidetada đã chủ trương kéo dài thời gian các lãnh chúa ở Edo. R. Cock viết: “Hoàng đế Nhật Bản (tức shogun – TG) đã yêu cầu tất cả các vua (daimyo) về Edo và giữ họ ở đó tới 7 năm. Vì vậy, họ phải đem theo vợ con và sống trong những khu nhà luôn sẵn sàng có những người phục vụ do
Hoàng đế cử đến. Những người này luôn chú ý lắng nghe và quan sát xem có gì xảy ra. Hành
động đó chính là để ngăn ngừa sự nổi dậy”(15).
Cùng với tozama daimyo, các lãnh chúa thân phiên (shimpan daimyo) như Kii và Owari cũng phải tuân thủ chế độ sankin kotai trong khi đó han Mito, một trong ba ngự tam gia (gosanke) lại được miễn trừ, không phải thực hiện chế độ này. Mặc dù có sự phân biệt đó
nhưng Mạc phủ luôn coi 3 lãnh địa này là một khối thống nhất và muốn phát triển thành trụ
cột của chế độ Tokugawa. Đây là các lãnh địa đứng đầu, có thế lực nhất trong đời sống chính
trị Nhật Bản. Với vị thế đó, những kiến nghị của 3 “thân phiên”, đặc biệt là han Mito cố vấn
cao cấp bên cạnh Mạc phủ, luôn có ảnh hưởng đến những quyết định trọng yếu của chính
quyền Edo. Gosanke “luôn có hai nhiệm vụ chính thức ở Edo. Các lãnh chúa đó tin rằng họ
có thể đề đạt những kiến giải về nhiều vấn đề chính trị một cách tổng quát và sau nữa cũng
được quyền tham vấn đối với các tướng quân kế nhiệm về những giải pháp chính trị phức
tạp”(16).
Như đã trình bày ở trên, sau khi quy chế về sankin kotai được chính thức ban hành, Tokugawa Iemitsu đã cho triệu tập các lãnh chúa phổ đại (fudai daimyo) đến dinh của tướng
quân để nghe thông báo về việc họ tạm được miễn trừ chưa phải thực hiện chế độ sankin
kotai. Tuy nhiên, các fudai vẫn phải ở lại Edo để sẵn sàng gánh vác trách nhiệm chung khi có lệnh điều động. Đến năm 1642, do đã tích luỹ được những kinh nghiệm cần thiết, Mạc phủ
quyết định mở rộng chế độ sankin kotai đối với các lãnh chúa fudai. Tháng 5 năm đó, 69 lãnh chúa phổ đại cũng được chia làm hai nhóm để thay nhau về Edo hàng năm. Đến tháng 9-1642, Mạc phủ lại ra lệnh cho 9 fudai phải tham gia vào chế độ này. Nhóm này về Edo “phục vụ” vào tháng 8 trong khi đó 14 fudai vùng Kanto và các lãnh chúa phổ đại khác thì về Edo vào tháng 2 hàng năm. Chủ trương bố trí thời gian chênh lệnh giữa các nhóm của chính
quyền Tokugawa nhằm tránh việc các lãnh chúa tập trung về Edo quá đông. Khác với các
tozama và 2 shimpan daimyo phải có trách nhiệm “phục vụ” ở Edo trong thời hạn 1 năm, các
fudai daimyo chỉ về trình diện trong thời hạn 6 tháng. Điều chắc chắn là, trước khi đi đến
quyết định đó Mạc phủ đã có sự lường tính kỹ lưỡng về khả năng bảo đảm an ninh chiến lược
cũng như tiềm lực kinh tế có phần hạn chế của các lãnh chúa phổ đại. Cũng cần phải nói thêm là, thời Edo mặc dù đối tượng chủ yếu của chế độ sankin kotai là các daimyo và một số
shomyo nhưng trên thực tế Mạc phủ cũng đã yêu cầu khoảng 30 võ sĩ kỳ bản (hatamoto hay
còn gọi là kotai yoriai) tham gia vào chế độ này. Phần lớn các samurai cao cấp này đều có
quan hệ thân tộc với họ Tokugawa và hiển nhiên do thực hiện sankin kotai nên cũng được đối xử và nhận một số đặc quyền phong kiến như nhiều lãnh chúa khác. Theo quy định của chính quyền Tokugawa, các lãnh chúa thân phiên Owari và Kii đến Edo và trở về lãnh địa vào tháng 3, tozama daimyo đi và đến vào tháng 4 (hoặc tháng 6) còn các fudai đi về vào tháng 2 và tháng 8. Tuy nhiên, tuỳ theo tình hình cụ thể mà một số lãnh chúa, đặc biệt là các fudai, đã không nhất thiết phải về Edo theo thời gian quy định. Có thể coi đây là một trong những biện pháp chính trị của chính quyền Tokugawa để giữ bí mật về lực lượng quân sự đồng thời còn nhằm kiểm tra mối quan hệ và lòng trung thành của một số lãnh chúa.
Ngoài những quy định và lịch trình đi lại mang tính nguyên tắc nêu trên, đối với các lãnh chúa ở xa hay có những hoàn cảnh đặc biệt, Mạc phủ luôn có sự điều chỉnh cho phù hợp
với điều kiện thực tế. Những trường hợp như lãnh chúa So ở Tsushima do ở ngoài đảo xa
đồng thời là cửa ngõ giao lưu của Nhật Bản với bán đảo Triều Tiên nên cứ 3 năm mới phải về
Edo một lần. Thêm vào đó, So chỉ phải ở lại Edo trong thời gian 4 tháng. Đoàn sankin của
lãnh địa này thường đến vào tháng 11 và trở về Tsushima vào tháng 2 năm sau. Như vậy, thời gian “phục vụ” của họ nằm trọn vào mùa Đông. Đây là thời kỳ lạnh giá, nhiều sương mù… việc đi biển rất khó khăn và chắc hẳn sự vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng bảo đảm an ninh ở vùng duyên hải miền Tây Nhật Bản. Tương tự như vậy, lãnh chúa Matsumae ở Yezo vùng Bắc Hải Đạo (Hokkaido) cũng được Mạc phủ giảm nhẹ việc đi lại. Theo quy định cứ 5 năm thì lãnh chúa này mới phải về Edo trong 4 tháng. Ngoài ra, các lãnh chúa như: Kuroda, Nabeshima, Goto và Omura có nhiệm vụ bảo vệ cảng quốc tế
Nagasaki cũng chỉ phải về Edo vào mùa đông tức là từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Đối với các hatamoto thời gian ở Edo cũng chỉ hạn chế từ 4 đến 6 tháng. Trong những hoàn cảnh
riêng biệt khác nếu như một lãnh địa nào đó bị động đất, hoả hoạn hay phải thực hiện nghĩa
vụ phong kiến thì có thể được xét miễn hay hoãn việc thực hiện sankin kotai. Sau vụ đại hoả
hoạn Meireki năm 1657 tiêu huỷ hầu hết thành Edo(17), 14 lãnh chúa đã được phép rời Edo,
22 lãnh chúa có nghĩa vụ sankin 4 tháng đã được hoãn lại 2 tháng và 17 lãnh chúa khác cũng
được miễn trừ không phải về trình diện trong năm đó. Sau các vụ động đất và hoả hoạn diễn
ra vào năm 1721, 1772 và 1855, Mạc phủ cũng có những cách ứng xử thích hợp. Năm 1760,
thành Kanazawa ở Kaga bị cháy lớn. Để khắc phục hậu quả, Mạc phủ đã cho Maeda vay
50.000 ryo và miễn trừ nghĩa vụ sankin năm đó. Năm 1762, hoả hoạn lại diễn ra ở Satsuma
và lãnh địa này cũng được phép hoãn nghĩa vụ về Edo đồng thời còn được Mạc phủ cho vay
20.000 ryo vàng.
Đến năm 1651 khi tướng quân thứ ba Tokugawa Iemitsu qua đời, sankin kotai đã trở
thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ chế hoạt động của chế độ phong kiến Nhật Bản. Do vậy, mặc dù có một số thay đổi nhưng chế độ sankin kotai đã được áp dụng hầu như
xuyên suốt thời Edo. Trong quá trình thực hiện, Mạc phủ đã có những biện pháp trừng phạt
nghiêm khắc đối với những lãnh chúa không tuân lệnh. Năm 1636, Nambu Shigenao (1606-
1664) lãnh chúa vùng Morioka về Edo chậm đã bị lưu giữ ở Edo suốt 3 năm. Một số khác
thậm chí còn có thể bị cắt giảm hay tịch thu lãnh địa.Trong các đoàn sankin kotai, ngoài lãnh chúa và gia đình còn có một lượng lớn võ sĩ, gia nhân, người phục vụ và cả các trí thức, nghệ nhân… theo “về kinh phục vụ”. Thành phần của đoàn tuỳ tùng nhiều khi còn bao gồm cả lực lượng võ sĩ về Edo để bảo vệ các cơ quan trọng yếu của Mạc phủ và thực hiện một số nghĩa vụ quân sự khác. Trên đường đến Edo, theo truyền thống quân sự Nhật Bản, các đoàn sankin kotai luôn được chia làm 3 bộ phận:
1. Osendachi (Tiền quân hay Đoàn tiền trạm), 2. Omodachi (Trung quân hay Đoàn chính, lãnh chúa luôn đi trong đoàn này). Và cuối cùng là 3. Oatodachi (Hậu quân hay Đoàn đi sau). 
Sau khi đến Edo, lãnh chúa và tuỳ tùng sống tập trung trong các dinh thự và cơ sở lưu
trú riêng của lãnh địa. Với các lãnh chúa nhỏ, luôn có từ 100 đến 200 người thường xuyên
sống ở Edo. Nhưng, trong dinh thự của các lãnh chúa lớn luôn có đến hàng nghìn người làm
việc và sinh sống. Thời Genroku (1688-1703), ngay cả lãnh chúa Ii ở Hakone tuy có thu nhập khiêm tốn 350.000 koku nhưng cũng có đến 5.000 người thường xuyên lưu trú. Cơ sở của lãnh địa Kaga cũng luôn có khoảng 4.000 người nhưng khi lãnh chúa Maeda và tuỳ tùng về Edo thì số lượng người có thể tăng lên đến 8.000. Đến thời Enkyo (1744-1748) lượng người trong dinh của Maeda đã tăng lên đến 10.000 ngay cả khi không có lãnh chúa ở đó.
Trong trường hợp của phiên Kaga, vào thời Maeda Tsunatoshi (1643-1724), đoàn sankin thường có khoảng 4.000 người tham gia bao gồm cả các võ sĩ cao cấp đi tháp tùng, võ sĩ bảo vệ, thư ký, người quản lý, người phục vụ, chuyên chở hàng hoá cho đến cả những người chuyên vác ô, chăm sóc ngựa… (18).
Vào đầu thời Tokugawa, lãnh chúa Matsuura cai quản vùng Hirado cũng đã cùng với đoàn tuỳ tùng đông tới 1.000 người kéo về Edo. Bác sĩ người Đức, Engelbert Kaempfer làm việc cho thương quán Hà Lan ở Nagasaki năm 1692, đã chứng kiến nhiều đoàn sankin trên đường đến Edo. Ông viết: “… đoàn tuần hành được tổ chức tuyệt vời. Đó là đoàn của một lãnh chúa lớn, được gọi như vậy, tất cả khoảng 20.000 người, còn đoàn của các shomyo thì có khoảng 10.000 người”(19). Rõ ràng, con số mà E. Kaempfer cung cấp là không xác thực. Các đoàn sankin kotai tuy đông nhưng không thể có quy mô lớn đến nhưvậy. Khi về Edo các võ sĩ luôn đem theo mình vũ khí gồm: gươm, giáo, khiên và cung tên… 
Từ thời Genroku (1688-1703) trong khuynh hướng “quý tộc hoá” các loại vũ khí mà võ sĩ
mang theo đều được trang trí tinh xảo và thường được dát kim loại quý. Để phân biệt đẳng
cấp, ngoài vị trí trong các đoàn tuần hành và thứ bậc khi diện kiến tướng quân thì cách thức ăn mặc cùng những mô típ trang trí trên trang phục và vũ khí của các võ sĩ cũng luôn có sự
khác biệt. Trong các chuyến về Edo, theo truyền thống Nhật Bản, lãnh chúa bao giờ cũng mang theo quà biếu tướng quân. Nhìn chung, quà biếu thường là những vật phẩm có giá trị như: tơ lụa, bạc, gốm sứ, ngựa quý… Cũng cần phải thấy rằng quà tặng luôn có nhiều loại.
Ngoài số quà biếu chính thức mang tính chất nghi lễ khi diện kiến shogun các lãnh chúa còn những loại tặng vật khác gửi biếu thêm tướng quân hoặc tặng cho giới võ sĩ cao cấp trong hệ thống chính quyền.
Trong thời gian ở Edo, một số daimyo mà điển hình là lãnh chúa Shimazu, hàng tháng
đều có quà biếu tướng quân. Ở han Saga, lãnh chúa Nabeshima còn đặc chế ra loại gốm sứ
cao cấp, có kỹ thuật chế tác và hoạ tiết hết sức tinh xảo chuyên dùng để biếu Thiên hoàng,
Mạc phủ và nhiều lãnh chúa đồng minh khác. So với Hizen, mặc dù gốm Takatori không thật nổi tiếng nhưng lãnh chúa Kuroda cũng thường xuyên gửi biếu tướng quân cùng với một số loại sản phẩm khác như loại lụa đặc biệt để dệt obi (đai dùng trong kimono) và một số loại hải sản quý. Do có chất lượng và trình độ mỹ thuật khiêm nhường nên Tosa chỉ dùng gốm Odo để biếu các viên chức Mạc phủ và lãnh chúa chứ không gửi biếu tướng quân. Theo một sốnhà nghiên cứu, số lượng quà biếu của các địa phương là rất lớn. Vì vậy, “Do Mạc phủ không thể sử dụng hết số quà biếu này nên chúng đã được đưa ra thị trường qua một số thương nhân”(20). Về phần mình, để bày tỏ thái độ “trọng thị” trước sự tận tuỵ và trung thành của các daimyo, Mạc phủ bao giờ cũng tặng lại những vật phẩm có giá trị. Thông thường, tặng phẩm của tướng quân luôn có giá trị cao hơn so với quà biếu của các lãnh địa.
Thống kê mức quà biếu chính thức của 10 lãnh chúa tozama năm 1853 chúng ta thấy Mạc phủ đã nhận tổng cộng 340 thoi bạc và 150 súc lụa nhưng đã tặng lại 550 thoi bạc và 190 súc lụa cho các lãnh chúa. Cụ thể:
Bảng 3. Lượng quà biếu của lãnh chúa và tặng phẩm của tướng quân
bang 3
Nguồn: Toshio G. Tsukahiza: Feudal Control in Tokugawa Japan…, p.66.
Mặt khác, nhiều lãnh chúa tuy sống ở Edo nhưng vẫn không thể nào quên được hương vị của quê hương như: rượu sake, cá, nước chấm, trái cây… Do vậy, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ sankin không ít lãnh chúa đã phải tự tổ chức nên một hệ thống tiếp tế lương thực và nhu yếu phẩm. Từ chỗ chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của đoàn sankin kotai, các đặc sản nổi tiếng của nhiều địa phương cũng dần được giới tiêu thụ ở Edo biết đến và chúng được chuyển về Edo với khối lượng lớn. Trong đó, Hachinohe thường chở về thóc gạo, đậu tương, lúa mì.
Kaga đưa về ngói, nước chấm, rượu sake… Do nhu cầu tiêu dùng ngày một cao, nhiều sản
phẩm nổi tiếng của các địa phương như gốm Hizen; kimono, tơ lụa và đồ sơn mài từ Kyoto…
đã được các lãnh chúa và thị dân Edo hết sức ưa chuộng. Điều có thể khẳng định là, cùng với
sự phát triển của kinh tế thương nghiệp, những nhu cầu tiêu dùng và trao đổi tặng vật thông
qua chế độ sankin kotai đã tác động đến kinh tế địa phương và thu hút một lực lượng lao
động lớn chuyên sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm trên các thị trường lớn của Nhật
Bản.
3. Các tuyến đường dẫn đến “kinh đô” và sự suy tàn của chế độ luân phiên trình diện
Trong nhận thức của các lãnh chúa thì thành Edo, nơi “trị vì” của tướng quân Tokugawa thực sự là trung tâm chính trị, là “kinh đô” của Nhật Bản. Tuân thủ chế độ sankin kotai, khi về Edo các lãnh chúa thường đi theo 5 tuyến đường chính được gọi là Gokaido, bao gồm:
Tokaido (Đông Hải đạo), Nakasendo (Trung Sơn đạo), Nikko dochu (Nhật Quang đạo
trung) Oshu dochu (Áo Châu đạo trung) và Koshu dochu (Giáp Châu đạo trung). Tất cả đều
bắt đầu từ Nihonbashi (Cầu Nhật Bản). Đây được coi là đầu mối giao thông, trung tâm
thương nghiệp của Edo và toàn thể Nhật Bản(21). Trên thực tế, Gokaido đã được thiết lập từ
thời Chiến quốc đến thời Edo vẫn được tiếp tục mở mang và hoàn thiện. Hầu hết các lãnh
chúa miền Tây (vùng Shikoku và Chugoku) khi thực hiện sankin đều đi theo Tokaido. Đây là tuyến đường có mật độ lưu thông cao nhất Nhật Bản. Năm 1821, trong số 198 daimyo rời Edo thì đã có tới 116 theo Tokaido trở về lãnh địa. Năm 1821, có 245 daimyo (với tổng thu nhập là 18.367.000 koku) thực hiện chế độ sankin kotai và họ đã đi lại trên 8 tuyến đường dẫn đến Edo cụ thể như sau:
Bảng 4. Số lãnh chúa đi trên các tuyến đường và mức thu nhập (koku)
Tuyến đường             Số lãnh chúa đi trên tuyến đó                      Tổng thu nhập của lãnh chúa
Tokaido                              146                                                           12.000.000
Nakasendo                        30                                                             2.158.000
Nikko dochu                     4                                                                184.000
Koshu dochu                    37                                                              2.858.000
Oshu dochu                      3                                                                83.000
Iwatsuki-do                      1                                                                20.000
Mito Kaido                       23                                                              894.000
Nerima-dori                     1                                                                 70.000
Tổng số                             245                                                            18.367.000
Nguồn: Toshio G. Tsukahiza: Feudal Control in Tokugawa Japan…, p.71.
Để tiện việc đón tiếp khi các lãnh chúa về Edo, chính quyền Tokugawa đã cho xây
dựng các “quán sứ” trên các trục đường chính dẫn đến Edo như: Shinagawa trên đường
Tokaido, Itabashi trên đường Nakasendo và Senju trên dường Oshu dochu. Khi chế độ sankin kotai mới được thiết lập, đối với các lãnh chúa có địa vị cao mỗi khi về Edo thậm chí còn được shogun ra tận ngoại thành tiếp đón. Cùng với chủ trương ngày càng hoàn thiện hoá chếđộ sankin kotai, trên Gokaido chính quyền Tokugawa đã từng bước thiết lập một hệ thống các trạm nghỉ cho các đoàn sankin và công chúng. Năm 1603, chỉ riêng tuyến Tokaido đã xây dựng được 33 trạm nghỉ (shuku eki hay shukuba machi) và đến năm 1632 đã lập thêm được 20 trạm nữa. Như vậy, trước khi chế độ sankin kotai được chính thức thiết lập thì chỉ riêng tuyến Tokaido đã có 53 shuku eki. Mục tiêu của việc lập thêm những trạm mới này là để giảm bớt khoảng cách giữa các trạm cũ ví như trên tuyến Tokaido việc lập trạm Totsuka vào năm 1604 là để giảm bớt khoảng cách 16km giữa Hodogaya và Fujisawa, trạm Kawasaki lập năm 1623 để giảm 20km giữa Shinagawa và Kanagawa. Cùng với Tokaido, các tuyến đường khác cũng đều lập thêm nhiều trạm mới. Đến năm 1635, trên cả 5 tuyến đã có 248 trạm(22). Tuỳ theo chất lượng từng tuyến đường mà Mạc phủ quyết định đặt trạm.
Khoảng cách giữa các trạm thường từ 4 đến 12km. Ngoài những chức năng chung như nơi nghỉ ngơi, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ đi lại, thông tin, ngựa trạm, địa điểm giải trí… để phục vụ nhu cầu của người qua lại, mỗi trạm đều ít nhiều tổ chức hoạt động kinh doanh. Ở đó, người ta thường bán những vật phẩm thiết yếu cùng với đặc sản địa phương. Tại các trạm lớn, hoạt động của hệthống dịch vụ luôn được tổ chức hoàn hảo.
Theo quy định, mỗi trạm phải có một nhà nghỉ chính (honjin) để đón tiếp các lãnh
chúa và võ sĩ cao cấp. Ngoài ra, còn có một số nhà nghỉ khác (waki-honjin) để đón tuỳ tùng
và lữ quán (hatagoya) chuyên phục vụ khách vãng lai. Để tiện cho việc nghỉ ngơi và chăm
sóc động vật hầu hết các trạm đều được lập tại những địa điểm tương đối rộng rãi, gần nguồn
nước. Theo quan điểm của Constantine N. Vaporis thì vào thời Edo, trên các tuyến đường
thuộc hệ thống Gokaido có 4 loại trạm nghỉ: 1. Trạm núi, chủ yếu là nơi dừng chân trên đỉnh
đèo; 2. Trạm nông thôn, ở vùng đồng bằng nhưng tương đối xa vắng; 3. Trạm cảng thị, ở
trong hay gần các bến cảng; và 4. Trạm thị trấn, thành thị, là các trạm nằm ở trung tâm hành chính, dân cư. Loại trạm này đóng nhiều chức năng khác nhau chứ không chỉ đơn thuần là nơi dừng chân của người qua lại. Trên tuyến Tokaido, ở loại hình 3 và 4, mỗi trạm thường có đội ngũ phục vụ và cung cấp dịch vụ, số người làm việc, sinh sống ở đây thường khoảng 3.000-4.000. Các trạm như: Fuchu, Kuwana, Okazaki, Hamamatsu, Odawara, Numazu, Yoshida, Kakegawa và Kameyama… thuộc tuyến Tokaido là những trạm lớn, nơi dừng chân chủ yếu của các lãnh chúa. Trong những năm 1630-1640, Mạc phủ đã yêu cầu tăng số người phục vụ ở mỗi trạm trên tuyến Tokaido trung bình lên gấp 3 lần gồm 100 khuân vác và 100 ngựa trạm. Trên tuyến Nakasendo, mức độ yêu cầu đối với mỗi loại là 50 còn các tuyến khác trong hệ thống Gokaido là 25. Trên thực tế, quy định đó của Mạc phủ không phải bao giờcũng được các địa phương bảo đảm chính xác. Thông thường lượng người phục vụ ở các trạm đều cao hơn so với yêu cầu.
Nhìn chung, việc điều hành và quản lý các trạm là do chính quyền địa phương đảm trách. Tại mỗi trạm như vậy đều có hệ thống quản lý đứng đầu là trạm trưởng (ton’ya-ba). Các trạm phải có trách nhiệm: “Phục vụ không chậm trễ bất kể đêm hay ngày, mưa hay nắng” với những hoạt động liên tục của hệ thống nhà nghỉ, ngựa trạm, thông tin, dịch vụ sửa chữa
phương tiện, thuyền qua sông và cả người khuân vác… Về phần mình, cùng với việc thực
hiện chế độ kiểm tra thường xuyên hoạt động của các trạm, Mạc phủ còn thiết lập một chế độ
theo dõi bí mật trên các tuyến đường. Để bảo đảm hoạt động thông suốt của các trạm và toàn
bộ hệ thống giao thông, trước mỗi dịp các lãnh chúa về Edo, Mạc phủ đều yêu cầu chính
quyền địa phương sửa sang đường và cầu. Điều 15 của Luật Vũ gia ban hành năm 1635
khẳng định: “Đường, ngựa trạm, cầu phà phải được quan tâm và bảo đảm hoạt động thường
xuyên. Luật nghiêm cấm bất cứ một hành vi thiếu trách nhiệm hay cản trở nào”(23).
Vì lo sợ tình trạng mất an ninh và xuất phát cả từ những nguyên nhân kinh tế, đối với
các lãnh chúa sống tại những khu vực tương đối tách biệt với Honshu (Bản Châu), Mạc phủ
có thể cho phép các lãnh chúa đó đi theo những tuyến đường biển ngắn nhưng sau đó lập tức phải nhập vào hệ thống đường bộ và tuân thủ nguyên tắc của hệ thống này. Điều hiển nhiên là, Mạc phủ và chính quyền các địa phương chỉ bảo đảm cho sự thông suốt của hệ thống giao thông, tạo điều kiện cung cấp dịch vụ còn việc sử dụng và chi phí cho các dịch vụ đó là trách nhiệm của các đoàn sankin cùng lữ khách. Khi đi qua các trạm, tất cả các đoàn sankin thậm chí mỗi khách lữ hành, nếu đi đơn lẻ, đều phải xuất trình giấy phép đi lại do chính quyền hay cơ sở quản lý cấp(24).
Để bảo đảm an ninh, ngoài việc thực hiện sự giám sát thường xuyên tại hệ thống trạm nghỉ, Mạc phủ còn lập thêm các trạm kiểm tra (sekisho). Thời Tokugawa Hidetada, 53 trạm kiểm tra đã được dựng lên chủ yếu trên 2 tuyến đường chính dẫn đến Edo là Tokaido và Nakasendo. Trạm Arai dựng năm 1601 trên tuyến Tokaido và Kiso Fukushima dựng năm
1602 trên tuyến Nakasendo là những trạm lớn, có mức độ kiểm tra nghiêm ngặt nhất. Ngoài
ra, các lãnh địa còn đặt ra nhiều điểm kiểm soát ở các địa phương chủ yếu nhằm ngăn chặn
nông dân bỏ quê vào thành thị kiếm sống hay các võ sĩ vô chủ (ronin)(25). Bằng hệ thống các sekisho chính quyền Edo đã có thể củng cố thêm mạng lưới bảo vệ an ninh cho Edo và một số địa điểm nhạy cảm khác như: cố đô Kyoto, khu đền thờ Ise hay khu lăng tẩm của họ
Tokugawa ở Nikko…
Để thể thức hoá những nguyên tắc trong việc giám sát việc đi lại, năm 1625 Mạc phủđã gửi đến các trạm quy định sau: “1. Tất cả mọi người khi đi qua trạm kiểm tra đều phải bỏ mũ và khăn đội đầu; 2. Tất cả những người ngồi trong xe, kiệu đều phải mở cửa để kiểm tra trước khi đi qua trạm; và 3. Quý tộc triều đình, người đứng đầu cơ sở tôn giáo thuộc triều đình (monzeki) và lãnh chúa sẽ được miễn trừ kiểm tra nếu như đã thông báo trước việc đi qua.
Nhưng nếu như phát hiện thấy sự nghi ngờ thì bất cứ người nào, không kể địa vị, cũng đều bị kiểm soát”. Đến năm 1666, Mạc phủ đã bổ sung thêm 1 quy định mới: “4. Người đem súng phải có giấy phép sử dụng (shomon). Nếu không có giấy phép thì không được đi qua sekisho”(26).
Năm 1631, tức là 4 năm trước khi Mạc phủ Edo đi đến quyết định chính thức thiết lập chế độ sankin kotai, chính quyền Tokugawa đã gửi đến nhiều sekisho một chỉ thị mật nhưsau: “1. Những người bị thương, phụ nữ và tất cả những ai nhận thấy khả nghi đều không được cho đi qua trạm nếu như không có giấy phép đi lại; 2. Nếu có kẻ nào đó đi qua trạm bất hợp pháp, cho dù sau đó chính quyền mới phát hiện ra, thì những người phụ trách ở các trạm phải chịu trách nhiệm (bao gồm cả người chèo thuyền, những người được giao vận chuyển khách qua sông v.v…) và cả dân địa phương cũng đều phải gánh chịu hậu quả; 3. Nếu kẻ nào đó cố tình trốn qua trạm mà bị bắt giữ thì người có công bắt giữ sẽ được ban thưởng. Mức độ ban thưởng phụ thuộc vào địa vị của kẻ phạm tội; 4. Nếu kẻ nào đó có hành động mua chuộc
để qua trạm kiểm tra thì phải bắt giữ ngay và báo cáo cho Mạc phủ biết”. Năm 1711, chính
quyền Edo bổ sung thêm 2 quy định nữa: “1. Phụ nữ đi qua trạm phải kiểm tra thật kỹ càng
cùng với giấy phép đi lại của họ; 2. Phụ nữ đi trên xe, kiệu đều phải đưa đến một khu riêng
biệt để kiểm tra và người kiểm soát phải là phụ nữ (onna aratame)”(27). Điều mà Mạc phủ lo
ngại là “nữ nhân xuất, vũ khí nhập”. Sự trốn chạy của các con tin đặc biệt là vợ con của các
lãnh chúa sẽ làm cho chế độ sankin kotai trở nên vô nghĩa.

Sau gần một thế kỷ chính thức thực hiện chế độ sankin kotai, trải qua 6 đời tướng quân, đến tướng quân thứ tám của triều đại Tokugawa là Yoshimune (1716-1745) chế độ “Luân phiên trình diện” ở Nhật Bản đã bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng hoảng.
Sankin kotai thực sự trở thành gánh nặng không chỉ đối với các lãnh chúa địa phương mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiềm lực kinh tế của chính quyền Edo. Trước thực trạng đó,
không còn cách nào khác, năm 1722 Yoshimune buộc phải nới lỏng chế độ này. Để tăng
cường sức mạnh kinh tế cho chính quyền Edo, Mạc phủ đã yêu cầu các lãnh chúa phải thực
hiện chế độ dâng nộp thóc gạo (agemai). Song song với việc thực hiện chủ trương đó,
Yoshimune cũng tuyên bố giảm thời gian bắt buộc các lãnh chúa ở Edo xuống 6 tháng. Chủ
trương cắt giảm thời gian ở Edo được duy trì cho đến năm 1730.
Mặc dù từ sau năm 1730 chế độ sankin kotai đã được phục hồi nhưng nhiều lãnh chúa
đã không tuân thủ chế độ này một cách nghiêm cẩn như trước. Không ít lãnh chúa đã tìm mọi cách để trì hoãn nghĩa vụ về Edo. Trước tình trạng đó, Mạc phủ đã phải nghiêm khắc yêu cầu các lãnh chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ đúng lịch trình và bổn phận của một phiên thuộc. Mặt khác, những daimyo đã ở lại Edo quá thời hạn quy định cũng phải sớm trởvề địa phương. Đến cuối thế kỷ XVIII, trước áp lực ngày càng mạnh mẽ của phương Tây, một số võ sĩ trí thức đã khuyến cáo chính quyền Tokugawa về nguy cơ chủ quyền dân tộc bị xâm hại và kêu gọi phải chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng đối phó với sự can thiệp của các nước tư bản Âu – Mỹ. Hơn 50 năm sau, nguy cơ đó đã trở thành hiện thực khi áp lực đòi mở cửa Nhật Bản của các nước phương Tây ngày càng mạnh mẽ. Sau chuyến “viếng thăm” của hạm đội Mỹ do đề đốc M. Perry dẫn đầu, Mạc phủ đã phải khẩn trương tăng cường khả năng bảo vệ an ninh đất nước.
Trước sự sống còn của vận mệnh dân tộc, không ít lãnh chúa đã có nhiều kiến nghị cương quyết, táo bạo gửi lên chính quyền Edo về sự cần thiết phải sớm thay đổi chế độ sankin kotai. Dựa vào mối quan hệ thân tộc với Mạc phủ Tokugawa, lãnh chúa Matsudaira
Shungaku (1828-1890) han Fukui, đã đưa ra đề nghị: “Hiện nay các lãnh chúa đang kiệt quệ
do vậy họ không thể bảo vệ đất nước. Điều cần thiết là phải giảm bớt gánh nặng kinh tế và
xây dựng cơ sở cho các lãnh địa. Hiện thời, việc chi phí cho chế độ sankin kotai và cho gia
đình họ ở Edo là rất lớn. Vì vậy, việc đầu tiên cần làm là nới lỏng chế độ sankin kotai đến 3
hoặc 4 năm và cho phép gia đình họ về quê. Nếu làm được như vậy thì sẽ có khả năng chuẩn
bị được lực lượng quân sự”. Tiếp đó ông còn nhất mạnh: “Hãy cho vợ và con của các lãnh
chúa về lãnh địa. Tất cả tặng vật của chính quyền cho các lãnh chúa cũng không cần thiết
nữa, quà tặng cho các viên chức Mạc phủ cũng phải chấm dứt và các lãnh chúa chỉ phải vềtrình diện 3 hay 4 năm một lần. Nếu thực hiện được điều đó thì không chỉ Mạc phủ có lợi mà các lãnh chúa cũng sẽ rất biết ơn”(28).
Không chỉ là người đề xuất ý kiến, về sau với tư cách là người đứng đầu trong cơ quan hành chính của Mạc phủ, Matsudaira Shungaku còn có điều kiện thực hiện chủ trương cải cách của mình. Tư tưởng đó của Matsudaira đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Yokoi Shonan (1809-1869) cũng một số học giả Nho giáo. Nhưng khác với Matsudaira, quan điểm của Yokoi tỏ ra khá mạnh mẽ và muốn đi đến những thay đổi căn bản trong nguyên tắc hoạt động của chế độ sankin kotai. Theo ông: “Nếu như chế độ sankin kotai hoàn toàn bị bãi bỏ thì thật rất khó xác lập lại. Vì vậy, chế độ này có thể chuyển thành cơ chế cố vấn (jusshoku). Nếu như lãnh chúa ở Edo 100 ngày, mỗi ngày đều đến phủ tướng quân để đàm luận công việc thì tất cả
mục tiêu của chính quyền sẽ được giải quyết. Bên cạnh đó vợ con của các lãnh chúa cũng nên
cho trở về địa phương và những trang bị cùng lực lượng không cần thiết cũng phải được bãi
bỏ”(29).
Trước áp lực của nhiều lãnh địa và liên tục phải đối chọi với những tình thế chính trị ngày càng phức tạp ngày 15-8-1862, tức là 4 năm sau khi Mạc phủ phải ký hàng loạt các “Hiệp ước thương mại và hữu nghị” với Mỹ và nhiều cường quốc phương Tây khác, Tokugawa Iemochi (1846-1866) đã cho triệu tập các lãnh chúa đến phủ tướng quân để nghe tuyên bố về chủ trương “cải cách” chế độ sankin kotai. Tinh thần cơ bản của cuộc “cải cách” là nới rộng khoảng cách giữa các chuyến sankin đồng thời rút ngắn thời gian ở Edo. Theo Mạc phủ, chủ trương đó chính là nhằm tạo cho các lãnh chúa “có thêm điều kiện quản lý dân chúng, phát triển văn hoá, tăng cường khả năng quốc phòng, trấn hưng kinh tế và chuẩn bị đối phó với những tình huống có thể xảy ra”(30). Sau khi tiếp tục lắng nghe ý kiến của nhiều viên chức cao cấp và lãnh chúa, ngày 23-8-1862 Mạc phủ đã chính thức quy định: các lãnh chúa chỉ phải về Edo 3 năm một lần và thời gian lưu lại là 100 ngày. Riêng 2 gosanke là Kii và Owari cùng với một số lãnh chúa được Mạc phủ biệt đãi (tamari-no-ma daimyo) là “được” tiếp tục ở lại Edo 1 năm. Các lãnh chúa khác như So của Tsushima, Kuroda của Chikuzen, Matsuura của Hizen… thì chỉ cần lưu lại Edo trong vòng 1 tháng.
Sau khi chủ trương “cải cách” được ban hành, mọi chi phí cho sankin kotai đều bị cắt giảm. Vợ con cùng gia nhân của các lãnh chúa, những người theo quy định phải sống thường xuyên ở Edo, cũng có thể được trở về lãnh địa. “Hệ quả là tất cả các lãnh chúa và hatamoto,
những người nắm quyền sử dụng ruộng đất đều phải cho vợ con về quê hương và chỉ trong
phút chốc, một Edo phồn thịnh đã trở nên hoang vắng và tất cả các lãnh chúa có quan hệ với
chính quyền Tokugawa cũng như võ sĩ thuộc quyền đủ mọi tầng lớp kể cả thị dân, đều đau
buồn về thực trạng đó”(31). Trong bối cảnh chính trị Nhật Bản ngày càng có nhiều diễn biến
phức tạp, nhận thấy uy lực của chính quyền Edo đã thực sự suy yếu nhiều lãnh chúa, đặc biệt
là các tozama daimyo lại hướng về Kyoto để tìm kiếm một chỗ dựa chính trị mới. Được một
số tozama có thế lực như Satsuma, Choshu, Tosa ủng hộ… triều đình Kyoto đã thấy có đủ sức
mạnh và bắt đầu gây sức ép chính trị trở lại với chính quyền Edo. Trước tình trạng đó, để
củng cố thiết chế phong kiến, nắm lại lực lượng từ các địa phương, tháng 8-1864 Mạc phủ lại
ban hành mệnh lệnh yêu cầu các lãnh chúa phải tiếp tục tuân thủ chế độ sankin kotai đồng
thời đưa vợ con trở lại Edo. Nhưng chủ trương đó của Mạc phủ đã bị các tozama cự tuyệt.
Ngay cả các fudai daimyo cũng tìm cách trì hoãn không tuân hành mệnh lệnh. Điều đáng chú ý là, thay vì lần lượt tụ hội về Edo “phục vụ” như nhều thế kỷ trước, các lãnh chúa lại tập
trung về Kyoto để tôn vinh và tranh thủ sự ủng hộ của một “minh chủ” mới. Do vậy, cố đô
Kyoto đã trở thành nơi tập trung các thế lực chính trị và là pháo đài chống lại thế lực phong
kiến đương quyền. Không có một tuyên bố chính thức nào, sau hơn 2 thế kỷ tồn tại, chế độ
sankin kotai đã từng bước tan rã và đi vào hồi kết thúc. Nhìn lại lịch sử thời kỳ Edo chúng ta thấy, chế độ sankin kotai đã để lại nhiều hệ quả sâu sắc đối với đời sống kinh tế và xã hội Nhật Bản. Để tuân thủ chế độ sankin kotai, hầu hết các lãnh chúa đã phải huy động một nguồn nhân lực và tài chính lớn. Sankin kotai đã làm suy giảm tiềm lực kinh tế của nhiều địa phương. Nhưng, việc tập trung một số lượng đông đảo giới lãnh chúa phong kiến và võ sĩ về Edo cũng đồng thời tạo nên những động lực cần thiết thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thương nghiệp, sản xuất thủ công, trao đổi, kinh doanh tiền tệ và mở rộng tầm giao lưu văn hoá ở Nhật Bản. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu chế độ sankin kotai phải được coi là một trong những chìa khoá để nhận thức và lý giải về bản chất chính trị cũng như những chuyển biến quan trọng về kinh tế, xã hội Nhật Bản thời kỳ này.
Trải qua hơn 2 thế kỷ, chế độ sankin kotai cũng đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối
với thể chế chính trị Nhật Bản. Thông qua việc thực hiện chế độ “Luân phiên trình diện” về
căn bản, Mạc phủ Edo đã có thể thực hiện được sự thống nhất và tập trung quyền lực. Trên
thực tế, chế độ đó đã làm suy giảm tính tự chủ cùng khuynh hướng phân cát của nhiều lãnh
chúa phong kiến. Bằng việc tập trung các lãnh chúa về Edo, sankin kotai đã “quốc gia hoá”
lối sống và tầm suy nghĩ của những nhà quản lý địa phương đồng thời cũng đưa đến cho họ
những nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về chủ quyền và ý thức dân tộc. Từ trong môi
trường chính trị, xã hội đó một đội ngũ những nhà quản lý có kinh nghiệm và tầm kiến văn
rộng rãi đã xuất hiện và chính họ đã đóng vai trò then chốt trong cuộc chuyển mình của dân
tộc Nhật Bản giữa thế kỷ XIX.
Chú thích:
1. Sankin kotai vẫn được một số học giả gọi là chế độ “Tham-cần giao-đại”. Đây là lối phiên âm từNhật ngữ nhưng tương đối khó hiểu với đại đa số bạn đọc người Việt. Sankin có nghĩa là “diện kiến”, “tiếp kiến” hay “phục vụ” còn kotai là “luân phiên” hay “thay đổi”, “thay phiên cho nhau”. Trong Anh ngữ, sankin kotai được các tác giả chuyển dịch bằng thuật ngữ “Alternate attendance”. Từ đó, có một số nhà nghiên cứu và dịch giả gọi sankin kotai là chế độ “Luân phiên có mặt”. Theo chúng tôi, sankin kotai thực chất là chế độ con tin do đó để thể hiện đúng bản chất của chế độ này nên dùng thuật ngữ “Luân phiên trình diện”.
2. Ở Trung Quốc từ thời Xuân thu – Chiến quốc (770 – 221 TCN), để thắt chặt các liên minh chính trịhoặc gây sức ép với đối phương, nhiều nước đã sử dụng chế độ con tin. Về sau, trong cuộc chiến tranh Hán – Sở dẫn đến sự thành lập triều Tây Hán (206 TCN – 8 SCN), Hạng Vũ tức Tây Sở Bá Vương, cũng đã đến đất Bái bắt cha và vợ của Lưu Bang (về sau là Lữ Hậu) làm con tin. Xem: Sử ký Tư Mã Thiên – Hạng Vũ bản kỷ, Nxb Văn học, Hn.1988, Tr.103 – 104. Ở Nhật Bản, vào năm 1251, Mạc phủKamakura cũng đã ra lệnh cho các võ sĩ cao cấp (hyojosho) phải thực hiện chế độ sankin. Đây có thểcoi là tư liệu sớm nhất về chế độ này.
3. Có thể tham khảo A.L.Sadler, The Maker of Modern Japan – The Life of Shogun Tokugawa Ieyasu, Charles E.Tuttle Company, Tokyo 1992 hay Conrad Totman, Tokugawa Ieyasu: Shogun, Heian International Inc, United State of America, 1990
4. Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu được coi là “Tam kiệt” trong lịch sửNhật Bản. Đây là liên minh quân sự mạnh nhất thời đại Chiến quốc. Cả ba người đã có công lớn trong việc chấm dứt tình trạng nội chiến, xác lập nền hoà bình, thống nhất Nhật Bản.
5. Lãnh chúa đầu tiên về Edo để bày tỏ sự trung thành với Tokugawa Ieyasu là Maeda Toshinaga (1567-1614), con của Maeda Toshiie (1538-1599), vốn là bạn đồng minh của Ieyasu. Toshinaga thống lĩnh 3 vùng: Kaga, Etchu và Noto, là lãnh chúa có thu nhập lớn thứ hai ở Nhật Bản (1.192.700 koku).
Năm 1599, để bày tỏ sự trung thành, Toshinaga đã đưa mẹ đến làm con tin của Tokugawa Ieyasu. Vềphần mình, Ieyasu cũng cho cháu gái, con của Hidetada đến lãnh địa của Toshitsune là anh ruột của Toshinaga “phục vụ”. Sau đó, mượn cớ là đến Edo thăm mẹ, Toshinaga đã tìm cách tôn vinh vị thếcủa Tokugawa. Hành động đó của ông đã góp phần xác lập một nguyên tắc mới trong quan hệ giữa chính quyền Edo với các lãnh chúa địa phương. Đó là mối quan hệ trên dưới, tôn chủ – bồi thần chứkhông phải là quan hệ đồng minh mang tính chất bình đẳng như trước. Tiếp sau Maeda các lãnh chúa khác như: Date Masamune (1566-1636) từ Sendai có thu nhập 605.000 koku, Matsuura Shigenobu (1549-1614) vùng Hirado 63.200 koku, Hachisuka Yoshishige (1586-1620) vùng Tokushima thu nhập 186.000 koku, Hosokawa Tadaoki (1563-1645) lãnh chúa vùng Nakatsu 399.000 koku và Kuroda Nagamasa (1568-1623) vùng Fukuoka 523.100 koku từ miền Tây đều đã đến Edo trình diện năm 1603.
6. Robert Sakai, The Consolidation of Power in Satsuma Han; John W.Hall & Marius B. Jansen (Ed.), Studies in the Institutional History of Early Modern Japan, Princeton University Press, p.132.
7. Conrad D.Totman, Politics in the Tokugawa Bakufu 1600 – 1843, Harvard University Press, 1967, p.34.
8. Cùng với việc bày tỏ sự trung thành, một số lãnh chúa còn muốn cám ơn chính quyền Edo vì được cấp thêm đất đai hay lãnh địa mới. Ví như như trường hợp của Ikeda Terumasa về Edo để cám ơn Mạc phủ đã cấp lãnh địa Bizen cho con trai thứ hai là Tadatsugu (1599-1615). Bản thân ông cũng đã được cấp thêm ruộng đất và có thu nhập tới 370.000 koku, hơn gấp 2 lần thời điểm năm 1600 (150.000 koku). Các lãnh chúa vùng Fukushima, Kuroda, Kato, Yamanouchi đều có thu nhập khoảng gấp đôi lần so với trước trận Sekigahara.
9. David J.Lu, Japan – A Documentary History, An East Gate Book, United States of America, 1997, p.207.
10. David J.Lu, Japan – A Documentary History, An East Gate Book, United States of America, 1997, p.208.
11. David J.Lu, Japan – A Documentary History, An East Gate Book, United States of America, 1997, p.208.
12. Harold Bolitho, The Han; Cambridge History of Japan, John Whitney Hall (Ed.), Cambridge University Press, 1991, p.197.
13. Harold Bolitho: The Han; Cambridge History of Japan, John Whitney Hall (Ed.), Cambridge University Press, 1991, p.198.
14. Theo cách phân định của Mạc phủ, năm 1602 số lãnh chúa shimpan là 23, fudai là 72 và tozama là 119. Đến năm 1614, số fudai là 82 còn các tozama là 115 nhưng đến năm 1853 số lãnh chúa phổ đại đã tăng lên đến 145 còn tozama đã giảm xuống chỉ còn 97.
15. M. Paske Smith (Ed.), The Diary of Richard Cocks, Cape Merchant in the English Factory in Japan, 1615-1622. Tham khảo thêm Peter Pratt, History of Japan, Compiled from the Records of the Enlish East India Company, 1882, II, p.14.
16. Conrad D.Totman, Politics in the Tokugawa Bakufu 1600 – 1843, Harvard University Press, 1967, p.116.
17. Hitoshi Mogi, A Historical Study of the Development of Edo 1600-1860, Cornell University, Japan Foundation Library No.14191, p.68.
18. Toshio G. Tsukahiza, Feudal Control in Tokugawa Japan – The Sankin Kotai System, Harvard University Press, 1966, p.77- 80.
19. Engelbert Kaempfer, The History of Japan – Together with a Description of the Kingdom of Siam 1690-1692, Glasgow – James MacLehose and Sons, United States of America, 1971, p.331.
20. Constantine N. Vaporis, Breaking Barriers – Travel and the State in Early Modern Japan, Council on East Asian Studies – Harvard University Press, London, 1994, p.64.
21. Lấy điểm mốc là Nihonbashi ở Edo, tuyến Tokaido đến Osaka là 488km, Nakasendo đến Kyoto là 527km, Nikko dochu từ Edo đến Nikko Tosho-gu (khu lăng tẩm của dòng họ Tokugawa) là 145km, Koshu dochu đến Shimo Suwa ở Shinano và cuối cùng là tuyến Oshu dochu, tuyến nối dài của Nikko dochu từ Utsunomiya lên đến điểm cực bắc của đảo Honshu Miumara. Theo điều tra của Mạc phủ vào đầu thế kỷ XIX, điểm hẹp nhất của tuyến Tokaido là 2,7m và điểm rộng nhất là 14,6m. Thông thường mặt đường rộng từ 5,5 đến 7,3m.
22. Constantine N. Vaporis, Breaking Barriers – Travel and the State in Early Modern Japan, Council on East Asian Studies – Harvard University Press, London, 1994, p.22.
23. David J.Lu: Japan – A Documentary History, An East Gate Book, United States of America, 1997, p.208.
24. Ở Nhật Bản, chính quyền trung ương và lãnh chúa địa phương đều tìm cách hạn chế số lượng giấy phép lưu hành. Trên mỗi giấy phép đều ghi rõ tên người được phép đi lại (trong một số trường hợp là số người đi theo) và thời hạn sử dụng. Thời Edo, giấy phép là yêu cầu bắt buộc đối với những người đi lại trên Gokaido. Ngoài cơ quan cấp giấy phép của Mạc phủ, chính quyền lãnh địa và một số cơ sởtôn giáo cũng có thẩm quyền cấp giấy phép. Tuy nhiên, trên thực tế chính quyền cấp làng (mura), đại diện trạm lưu trú và cả chủ nhà nghỉ cũng có thể cấp những giấy phép đi lại. Nhưng loại giấy phép này chỉ có thể sử dụng trong một phạm vi nhất định.
25. Sau những biến động chính trị lớn vào đầu thời kỳ Edo (1600-1615) ở Nhật Bản có rất nhiều ronin(lãng nhân, võ sĩ vô chủ). Chỉ riêng sau trận Sekigahara năm 1600 đã có 17.000 ronin. Trong khoảng 50 năm đầu thế kỷ XVII, sau các cuộc tịch thu và thuyên chuyển lãnh địa ở Nhật Bản cũng đã xuất hiện thêm 398.000 ronin. Đây là những võ sĩ không có người quản lý, không có thu nhập và là nguy cơ gây mất ổn định xã hội. Với tư cách là một thành thị lớn và trung tâm kinh tế Edo luôn là điểm mà các lãnh nhân và nhiều tầng lớp xã hội khác hướng tới. Trong hệ thống Gokaido, để kiểm tra và sẵn sàng trấn áp những kẻ chống đối, mỗi sekisho đều có lực lượng vũ trang cần thiết. Ngoài ra, trong trường hợp khẩn cấp chính quyền còn có thể huy động dân binh của các làng xung quanh tham gia bảo vệ và kiểm soát trên các tuyến đường.
26. Constantine N. Vaporis, , Breaking Barriers – Travel and the State in Early Modern Japan, Council on East Asian Studies – Harvard University Press, London, 1994, p.120.
27. Constantine N. Vaporis, Breaking Barriers – Travel and the State in Early Modern Japan, Council on East Asian Studies – Harvard University Press, London, 1994, p.120 – 121.
28. Toshio G. Tsukahiza, Feudal Control in Tokugawa Japan – The Sankin Kotai System, Harvard University Press, 1966, p.130.
29. Toshio G. Tsukahiza, Feudal Control in Tokugawa Japan – The Sankin Kotai System, Harvard University Press, 1966, p.134.
30. Toshio G. Tsukahiza, Feudal Control in Tokugawa Japan – The Sankin Kotai System, Harvard University Press, 1966, p.134.
31. Ernest M. Satow: Japan 1853-1864 – Genji Yume Monogatari, Baba Bunyei, Tokyo, 1905, Vol.III, p.723.

Thời kỳ Tokugawa trong lịch sử Nhật Bản

PGS TS  Nguyễn Văn Kim
Trước đây, vì một số nguyên nhân khác nhau, người ta thường có khuynh hướng đề cao cuộc Cải cách Minh Trị năm 1868 và cho rằng sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản ngày nay chủ yếu là bắt nguồn từ cuộc cải cách này. Nhưng những thập kỷ gần đây, trên cơ sở phương pháp và tư liệu lịch sử mới, các nhà nghiên cứu đã có quan điểm khoa học, biện chứng hơn trong việc luận giải, đánh giá ý nghĩa lớn lao của công cuộc cải cách đó đồng thời chỉ ra những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội đã được hình thành từ các giai đoạn lịch sử trước, đặc biệt là thời kỳ Tokugawa.
Thời kỳ Tokugawa (1600 – 1868)(1) là giai đoạn phát triển cuối cùng và cao nhất của
chế độ phong kiến Nhật Bản. Diễn trình của giai đoạn lịch sử này hết sức đa dạng và phức
tạp. Đó vừa là thời kỳ mà chính quyền trung ương đạt được sự quản chế tương đối thống
nhất bao trùm toàn bộ lãnh thổ vừa là thời kỳ trỗi dậy của các công quốc (han) tập trung ở
vùng tây nam. Đó vừa là thời kỳ mà cơ sở kinh tế của đất nước vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất
nông nghiệp tự nhiên vừa có sự dung dưỡng những nhân tố phát triển của kinh tế hàng hoá,
giao lưu giữa các trung tâm thương mại trong nước và quốc tế. Đó vừa là thời kỳ chính quyền trung ương cố gắng duy trì trật tự xã hội bằng hệ thống giáo lý Nho giáo, đề cao Shinto giáo, lạnh nhạt với Phật giáo, từng bước chống lại Cơ Đốc giáo vừa là thời kỳ xuất hiện những
khuynh hướng tư tưởng đồng thời là trường phái học thuật mới, tác động đến nhiều đẳng cấp
trong xã hội như: Quốc học, Khai quốc học, Hà Lan học v.v…
Qua đó, đủ thấy rằng đây là thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Nhật Bản trên
tất cả mọi phương diện đồng thời chuẩn bị những tiền đề, điều kiện hết sức quan trọng để rồi
vào nửa sau thế kỷ XIX, Nhật Bản có thể “Đuổi kịp và vượt phương Tây”. Vì phạm vi khá
rộng của vấn đề, bài viết này chỉ tập trung phân tích một số đặc điểm tiêu biểu của thiết chế
chính trị và những chuyển biến kinh tế – xã hội căn bản trong thời kỳ lịch sử này mà thôi.
1. Tokugawa, một thiết chế chính trị hướng tới hoà bình, ổn định và thống nhất
Sau cái chết của Toyotomi Hideyoshi (1536 – 1598), Tokugawa Ieyasu (1542 – 1616)
với tư cách là lãnh chúa lớn nhất bắt đầu bước lên vũ đài chính trị ở Nhật Bản. Và, với thắng
lợi trong trận Sekigahara năm 1600, dẹp yên các thế lực chống đối, ông đã thâu tóm được
quyền lực thực tế về tay mình. Là một người nhìn xa trông rộng nhưng cũng hết sức thận
trọng, Tokugawa đã chuẩn bị những bước đi vững chắc, hết sức khôn khéo nhằm giải quyết
một cách căn bản các vấn đề thực tại của xã hội Nhật Bản lúc đó đồng thời hướng tới xây
dựng một thể chế chính trị ổn định, tái thiết nền hoà bình và thống nhất quốc gia. Thực hiện
mục tiêu trên, Tokugawa đã có những nỗ lực lớn để củng cố sức mạnh của chính quyền
phong kiến tập trung nhằm đạt tới sự điều hành hữu hiệu, trực tếp của chính quyền trung
ương với các địa phương thông qua một cơ chế vận động song song: Mạc phủ, đứng đầu là
shogun (tướng quân) Tokugawa ở Edo và các daimyo (lãnh chúa) cai trị khoảng 265 lãnh
địa(2). Do đó, cơ cấu chính trị mang tính chất quân phiệt này thường được gọi là Bakuhan
taisei tức là Chế độ Mạc phủ – công quốc hay còn được gọi là: Mạc – phiên thể chế, dựa vào
sự phục tùng và trung thành tuyệt đối của các võ sĩ. Trên cơ sở mối quan hệ truyền thống và thái độ của các daimyo trước trận Sekigahara, Tokugawa Ieyasu đã chia các lãnh chúa ra làm 3 loại: Shimpan (thân phiên) gồm có 23 lãnh chúa là họ hàng, con cháu gia tộc Tokugawa. Các lãnh chúa này là phiên dậu của chính quyền Edo trong đó dẫn đầu các shimpan là 3 han do 3 con trai của Tokugawa Ieyasu cầm đầu: Mito, Owari và Kii. Ba phiên này được ngọi là “Ngự tam gia”, chiếm giữ những vị trí chiến lược, được hưởng những đặc quyền kinh tế đồng thời là nơi chọn người nối nghiệp shogun trong trường hợp dòng chính ở Edo không có người thừa kế(3). Mito ở phía Bắc Edo, được quyền quản lý một lãnh địa rộng lớn có thu nhập tương đương với 350.000 koku thóc(4).
Owari nằm ở giữa Edo và Kyoto, tại vùng đồng bằng Nagoya có mức thu 619.500 koku. Kii
án ngữ phía tây nam Kyoto với trung tâm là Wakayama và cũng có thu nhập 555.000 koku.
Tiếp đến là các fudai daimyo (phổ đại) gồm 145 lãnh chúa, vốn là đồng minh của tập đoàn
Tokugawa từ trước năm 1600. Mặc dù có số lượng đông nhưng fudai thường là các lãnh chúa nhỏ, tổng thu nhập của họ khoảng 6.700.000 koku. Cuối cùng là tozama daimyo (ngoại dạng) gồm 97 lãnh chúa. Đây chính là những lãnh chúa chỉ chịu thuần phục Tokugawa sau khi bị đánh bại trong trận Sekigahara. Những lãnh chúa này sống tập trung ở phía bắc hoặc miền Tây Nhật Bản.
Trong lịch sử Nhật Bản, các tozama daimyo vốn là những dòng họ lớn, rất có thế lực
về chính trị và kinh tế. Ví như Satsuma ở vùng đông nam Kyushu có thu nhập tới 770.800
koku. Trên đảo Honshu những lãnh địa như Choshu cũng có thu nhập 369.000 koku và đặc
biệt là Kaga có thu nhập đến 1.022.700 koku. Tổng thu nhập của các lãnh chúa ngoại dạng lên tới 9.800.000 koku. Nhưng lãnh chúa có thu nhập vượt trội hơn tất cả là Tokugawa Ieyasu.
Bản thân ông giữ cương vị tướng quân nhưng đồng thời cũng là lãnh chúa lớn nhất nắm
quyền sở hữu 6.480.000 koku, tức là chiếm tới 25% tổng sản lượng nông nghiệp toàn quốc và khoảng 30% dân số. “Vương quốc” của ông trải rộng khắp vùng đồng bằng Kanto, khu vực
phụ cận Kyoto, kéo dài tới miền duyên hải phía nam. Ngoài ra, tướng quân Tokugawa còn
nắm quyền cai trị trực tiếp những trung tâm hành chính và kinh tế lớn như: Edo, Kyoto,
Osaka, Nagasaki, quản lý các mỏ khoáng sản giàu có, thâu tóm quan hệ ngoại thương cùng
một số lĩnh vực kinh tế quan trọng khác của Nhật Bản.
Với từng loại daimyo, Mạc phủ có cách đối xử phân biệt không chỉ trong việc ban cấp
lãnh địa, tài sản mà còn trong vấn đề hành chính, luật pháp, tước vị cùng nghĩa vụ phải thực
hiện đối với chính quyền trung ương… Bên cạnh một chính sách có phần ưu ái, nâng đỡ cho
các shimpan và fudai daimyo, Mạc phủ cũng luôn có thái dộ mềm dẻo nhưng hết sức nguyên
tắc với các lãnh chúa vốn là những kẻ thù địch. Do là “người ngoài”, các tozama daimyo
được đối xử đúng nghi lễ thậm chí được coi gần như ngang hàng nhưng để đề phòng mọi bất
trắc có thể xảy ra, Mạc phủ đã phân phong cho các daimyo thân tín những vùng đất có vị trí
chiến lược hoặc ở ngay gần kể những lãnh chúa có khả năng chống đối. Mục tiêu cảu chính
sách này vừa là để tiện theo dõi, kiểm soát vừa có thể ngăn chặn sớm nếu như các lãnh chúa
đó dám liều lĩnh phản bội lại chính quyền trung ương. Nhằm làm giảm thiểu sức mạnh của
các lãnh chúa, Mạc phủ thường đặt ra những nghĩa vụ đóng góp nặng nề cho các công việc có
tính chất quốc gia hay công trình công cộng đòi hỏi đầu tư lớn như: Bắc cầu, đắp đường, làm
thuỷ lợi, sửa chữa thành quách v.v…
Để quản lý chặt chẽ hơn nữa các lãnh chúa trên cơ sở một nguyên tắc chung, năm
1615 trước khi qua đời, Tokugawa Ieyasu đã ban hành bộ luật Luật vũ gia chư pháp độ (Buke shohatto) nhằm thiết chế hoá cơ chế chính trị dựa trên những quy định của đẳng cấp võ sĩ. 20 năm sau, bộ luật lại được vị shogun thứ ba, Tokugawa Iemitsu (1604 – 1651) chỉnh lý, hoàn thiện thêm một bước nữa với những điều khoản quy định nghiêm cẩn về địa vị, bổn phận của các han đối với chính quyền trung ương, nguyên tắc đạo đức, hành vi của từng đẳng cấp trong xã hội đặc biệt là đẳng cấp samurai. Bộ luật nghiêm cấm các han không được tự ý sửa chữa, xây dựng lâu đài mới nếu chưa được phép của Mạc phủ. Cấm các lãnh chúa liên kết
đồng minh hay thông gia với nhau. Họ cũng không được phép đóng thuyền lớn. Bên cạnh
những quy định đó, Mạc phủ còn đặt trạm kiểm soát trên các đường giao thông, hạn chế việc
xây cầu, luật lệ hoá chế độ sankin kotai, tức chế độ Luân phiên trình diện đối với các
daimyo…(5).
Như vậy, cùng với việc Tokugawa Ieyasu buộc các lãnh chúa phải ký cam kết trung
thành với tướng quân năm 1600, Bộ luật vũ gia được ban hành là một bước tiến nữa nhằm
thâu tóm quyền lực vào tay chính quyền trung ương đồng thời xây dựng những nguyên tắc
căn bản trong quan hệ xã hội. Chế độ sankin kotai được luật lệ hoá cho thấy một phương cách cai trị rất điển hình của chế độ phong kiến quân sự Nhật Bản. Trên thực tế, sự vận động và phát triển của chế độ sankin kotai đã dẫn đến những hệ quả kinh tế – xã hội sâu sắc, vượt ra ngoài tầm suy tính của chính quyền Tokugawa.
Chế độ sankin kotai ban đầu chỉ là sự tự nguyện của các lãnh chúa phong kiến, tình
nguyện về Edo để bày tỏ sự trung thành của mình với chủ tướng. Nhưng sau một thời gian,
chế độ này ngày càng quy định chặt chẽ và từ năm 1635 trở thành bổn phận bất khả kháng
của tất cả các tozama daimyo. Đây thực chất là chế độ con tin, buộc các lãnh chúa hàng năm
phải về sống ở Edo một thời gian rồi sau đó lại trở về lãnh địa của mình. Tuy nhiên, họ phải
để vợ con cùng nhiều võ sĩ thân tín trong tư dinh thứ hai ở “Thủ đô”. Cảnh tượng từng đoàn
người, có khi lên đến hàng ngàn người từ khắp các vùng đất nước lũ lượt kéo về Edo trình
diện là thực tế đầy sức thuyết phục cho thấy uy lực của chính quyền trung ương với lãnh chúa địa phương đồng thời thể hiện rõ mối quan hệ “Tôn chủ – bồi thần” rất điển hình ở Nhật Bản giai đoạn lịch sử này. “Những chi phí lớn cho các cuộc hành trình đó và cho dinh thự ở Edo thường chiếm hơn một nửa thu nhập của các lãnh chúa, dẫn đến sự suy yếu nghiêm trọng nguồn tài chính của họ, làm giảm khả năng chống đối. Sống ở Edo trong một thời gian dài như vậy đã khiến cho các gia đình lãnh chúa mất đi bản tính quê mùa của người chiến binh và họ bị quý tộc hoá, hơn thế nữa nó còn làm giảm đi nỗi sợ hãi đối với thể chế. Và sự giao lưu thường xuyên với một tỷ lệ lớn tầng lớp thống trị giữa Edo và các phiên đã tăng cường tính đồng nhất về văn hoá, tri thức, tư tưởng ở Nhật Bản hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới”(6).
Mạc phủ Tokugawa với thiết chế chính trị của nó, vừa mang tính chất quân sự vừa có
chức năng dân sự, vừa thống trị Nhật Bản với tư cách là lãnh chúa lớn nhất vừa đóng vai trò
của chính phủ trung ương, thay mặt Thiên hoàng cai quản đất nước, hoạch định chính sách
quốc gia. Mặc dù từ năm 1192 các tướng quân đã khuynh loát quyền lực của Thiên hoàng
nhưng trong quan hệ với triều đình Kyoto, Mạc phủ luôn tỏ ra tuân thủ các nguyên tắc của
đạo lý truyền thống bởi vì trên danh nghĩa Thiên hoàng vẫn là người có quyền uy cao nhất ở
Nhật Bản. Hoàng gia, mà linh hồn là Thiên hoàng, luôn có ý nghĩa là trung tâm hội tụ của sức mạnh truyền thống đồng thời là biểu tượng cho sự trường tồn và thống nhất dân tộc. Sự tồn tại song song của hai chính quyền trong cơ chế điều hành kép: Thiên hoàng (triều đình) và tướng quân (Mạc phủ) kéo dài gần 700 năm trong lịch sử Nhật Bản còn in đậm nét cho đến ngày nay là một đặc điểm rất đáng chú ý. Nguồn gốc thiêng liêng của Nhật hoàng thấm sâu trong truyền thống và ý thức dân tộc đã khiến cho các tướng quân, dù có tham vọng đến đâu, cũng phải tính toán cẩn trọng trong các bước đi chính trị. Hơn thế nữa, ở đất nước biệt lập như Nhật Bản, luôn bị chia cắt bởi những thế lực cát cứ thì vị thế thiêng liêng và quyền lực của Thiên hoàng, dù chỉ là hư vị, là điều kiện cần để dung hoà các xung đột. Trong ý nghĩ đó, tướng quân được coi là kẻ bề tôi của Nhật hoàng phải chấp nhận nguyên tắc tối thượng nêu trên.
Dưới thời Tokugawa, Nho giáo được coi là tư tưởng chính thống với chữ Trung
mang ý nghĩa chi phối các giá trị đạo đức khác. Các học giả uyên bác nhất của chế độ Mạc
phủ đã tìm thấy trong giá trị của học thuyết Nho giáo nhiều điểm tương đồng với Thần đạo
(Shinto), một tôn giáo chủ yếu là tôn thờ các vị thần tự nhiên, thể hiện bản sắc và thế ứng xử
với tự nhiên của cư dân nông nghiệp Nhật Bản. Trên thực tế, Nho giáo Nhật Bản thời kỳ Edo,
một hệ tư tưởng và lý luận đạo đức chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Tống Nho, đã đạt đến
độ hoà trộn cao với tôn giáo bản địa. Hệ quả của sự tiếp nhận và giao hoà đó đã dẫn đến sự
xuất hiện một hệ luận: “Thần Đạo là Trung quân mà Trung quân là Khổng giáo”(7). Do đó,
đúng như Michio Morishima đã nhận xét: “Đạo Khổng Nhật Bản manh tính dân tộc rõ
rệt”(8). Phải chăng, chính vì có tinh thần dân tộc mạnh mẽ và riêng biệt đó mà Nhật Bản đã
có thể sớm thoát khỏi tình trạng bảo thủ, trì trệ của một xã hội phong kiến phương Đông, gạt
bỏ những bất cập trong tư tưởng Nho giáo chính thống Trung Quốc để chuyển mình mau lẹ
vào thế giới hiện đại.
Như vậy, về chính trị giới lãnh đạo Tokugawa đã giải quyết thành công mối quan hệ
hết sức tinh tế với Thiên hoàng và Hoàng gia mà vẫn bảo vệ được chủ thuyết của mình. Cùng
với sự đối xử cung kính, những chu cấp tương đối rộng rãi về kinh tế… chính quyền Edo
không những đã tránh được sai lầm của một số tướng quân trước đây mà còn giữ được mối
quan hệ đúng nghi lễ với Thiên hoàng. Nhìn chung, mối quan hệ giữa hai thế lực chính trị đó đã diễn ra khá phẳng lặng và chỉ bắt đầu có dấu hiệu rạn vỡ khi các cường quốc phương Tây đem đại bác đến gõ cửa Nhật Bản vào giữa thế kỷ XIX.
2. Edo – Một thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế – xã hội
Hoà bình và ổn định ở Nhật Bản đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cho các
ngành kinh tế phát triển. Sau một thời kỳ mở cửa, đẩy mạnh quan hệ giao thương với bên
ngoài, từ những năm 1630 chính quyền Edo đã từng bước thực thi chính sách đóng cửa đất
nước và chỉ cho phép một số lượng hạn chế tàu và thuyền buôn Hà Lan, Trung Quốc được
tiếp tục đến buôn bán, trao đổi hàng hoá. Đó là quyết định có tính chất chiến lược của chính
quyền Edo nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, thống nhất đất nước, khắc phục tình trạng mất cân
đối nghiêm trọng trong cán cân thương mại. Chính sách đó còn đưa Nhật Bản, từ một thị
trường tiêu thụ hàng hoá ngoại quốc thành một nước tự chủ về sản xuất. Vì vậy, có thể khẳng
định rằng, chính sách toả quốc (sakoku) của Nhật Bản không phải chỉ hoàn toàn mang ý
nghĩa tiêu cực, tự tách biệt Nhật Bản ra khỏi những biến đổi chung của thế giới. Trên thực tế,
sakoku đã góp phần để bảo vệ chủ quyền dân tộc, duy trì địa vị thống trị của dòng họ
Tokugawa đồng thời khuyến khích sự phát triển của một nền kinh tế hướng nội, chủ yếu là
sản xuất và tiêu thụ trong nước. Về ý nghĩa của chính sách toả quốc, học giả người Anh,
chuyên gia lịch sử văn hoá nổi tiếng thế giới Arnold Toynbee viết: “Chế độ Tokugawa đã
tách Nhật Bản khỏi phần còn lại của thế giới và đã giữ được “điều phi thường” chính trị này
trong gần hai thế kỷ. Nhưng chế độ này đã bất lực trong việc ngăn chặn tiến trình thay đổi xã
hội trong một đế chế Nhật Bản bị cô lập, mặc dù nó đã cố gắng làm cho hệ thống phong kiến
được thừa hưởng từ thời biến loạn trước đó, thành một tổ chức vĩnh viễn”(9).
Là một quốc gia châu Á, nền tảng kinh tế chủ yếu của Nhật Bản thời Edo vẫn chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp tự nhiên. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, chính quyền
Tokugawa đã ban hành nhiều chính sách và thực thi những biện pháp tích cực nhằm khuyến khích ngành kinh tế này phát triển. Thời Edo, nhờ đẩy mạnh khai hoang mà diện tích đất canh tác không ngừng được mở rộng. Nhiều vùng đất hoang khô cằn, đầm lầy… trước đây đã biến thành đất sản xuất cùng với việc hoàn thiện không ngừng hệ thống tưới tiêu. Việc sử dụng các loại nông cụ cải tiến và bắt đầu hình thành tập quán sử dụng phân bón trong canh tác đã đem lại một sản lượng lương thực cao hơn nhiều so với những thế kỷ trước. Thêm vào đó, do thóc giống được cải tạo nên nhiều nơi nông dân đã cấy được hai vụ lúa. Tại nhiều địa phương, người ta đã áp dụng tương đối phổ biến lối xen canh. Lúa mì, đậu tương, khoai, một số loại rau mới, chàm, bông, dâu tằm, thuốc lá được trồng ở nhiều vùng Nhật Bản. Kết quả là, chỉ sau hơn một thế kỷ (1600 – 1720), tổng sản lượng nông nghiệp đã tăng lên gấp đôi đem lại một khối lượng nông phẩm phong phú. Nhờ đó, “Từ những năm 1600 đến 1720, dân số Nhật Bản đã tăng khoảng 2,5 lần và có tỷ lệ tăng hàng năm là 0.77%, điều đó có nghĩa là sản lượng nông nghiệp phải tăng lên để cung cấp cho số người đông thêm. Chắc chắn là như vậy bởi vì đất canh tác cũng đã được tăng lên theo. Nguyên nhân của sự gia tăng dân số là môi trường sống và chế độ dinh dưỡng được cải thiện vì thế mà tỷ lệ trẻ em (từ 10 tuổi trở xuống) chết yểu đã giảm mạnh từ 40% vào đầu thế kỷ XVII xuống còn 10% vào cuối thời kỳ Edo”(10).
Tuy nhiên, sự phát triển trong nông nghiệp đã không tương ứng so với các lĩnh vực
kinh tế khác. Từ giữa thé kỷ XVII, nền kinh tế hàng hoá đã từng bước đóng vai trò chi phối
đời sống – xã hội Nhật Bản. Sự hưng thịnh của các ngành kinh tế thủ công nghiệp và thương
nghiệp đã tác động sâu sắc đến xã hội nông nghiệp và đời sống nông dân. Chế độ lĩnh canh
thay đổi và quan hệ trong nông thôn cũng trở nên phức tạp. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu
cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất ở nhiều vùng đã bắt đầu xuất hiện các vùng
chuyên canh. Kinh tế nông nghiệp đã vượt qua khuôn khổ tự cung, tự cấp và bắt đầu tham gia vào thị trường kinh tế hàng hoá. Nhưng cũng chính vì thế mà một bộ phận nông dân ngày càng bị phụ thuộc nhiều hơn vào các ngành kinh tế phi nông nghiệp. Đồng thời, những gia đình nông dân giàu có cũng có khuynh huớng tách ra khỏi cộng đồng tương trợ sản xuất vốn có trước đây để trở thành đơn vị kinh tế độc lập. Sự ly biệt khỏi các cộng đồng sản xuất đó đã tạo điều kiện cho các hộ này tập trung đầu tư, thâm canh tăng năng suất, kết hợp hay
chuyển sang sản xuất thủ công nghiệp hoặc chế biến các sản phẩm nổi tiếng của địa phương.
Những nông dân có khả năng ngày càng trở nên giàu có hơn, một số đã “lột xác” thành địa
chủ mới, bên cạnh lớp nông dân nghèo, bị bần cùng hoá phải bán đất cho địa chủ hoặc
thương nhân và trở thành nông dân tự do. Để duy trì cuộc sống, họ đành phải chấp nhận thân phận tá điền, làm thuê trong các công xưởng thủ công hay bỏ quê kéo vào thành thị kiếm sống.
Những biến động ttrong nền kinh tế nông nghiệp đã phần nào kích thích sản xuất thủ
công nghiệp đất đến mức độ phát triển vượt bậc. Trên cả nước đã hình thành nhiều trung tâm thủ công nghiệp lớn. Có công xưởng thủ công nghiệp thu hút tới hàng ngàn lao động. Đến cuối thời Edo, các ngành sản xuất thủ công nghiệp đã thu hút trên 20% dân số toàn quốc. Nhờcó chuyên môn hoá và đầu tư kỹ thuật, một số mặt hàng thủ công của Nhật Bản lúc đó đã đạt đến trình độ tinh xảo nổi tiếng thế giới như: Tơ lụa, luyện kim, đồ gốm sứ, sơn mài… Nếu như vào đầu thế kỷ XVII, Nhật Bảnvẫn phải nhập khẩu tơ lụa từ Trung Quốc thì chỉ mấy thập kỷ sau đó, sau khi theo đuổi chính sách đóng cửa, trước nhu cầu bức thiết của thị trường ttrong nước, ngành sản xuất tơ lụa đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ, chất lượng và số lượng mặt hàng không ngừng được nâng cao. Từ sau năm 1858, thực hiện Hiệp ước hữu nghị, thương mại và hàng hải với Mỹ, tơ lụa trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật Bản, đạt giá trị ngang với tổng ngân sách hàng năm và được coi là “di sản lớn nhất của thời kỳ Edo để lại cho thời đại ngày nay”(11).
Điều đáng chú ý là, từ các cơ sở sản xuất, công trường thủ công, không ít chủ hãng đã
mở rộng kinh doanh các lĩnh vực khác như: Khai mỏ, luyện kim, vận tải, thương mại, ngân
hàng. Trường hợp Mitsui là một ví dụ. Gia đình này vốn làm nghề nấu rượu sake ở tỉnh Ise,
sau đó mở thêm hiệu cầm đồ và cho vay nợ lãi. Chuyển về Edo kinh doanh năm 1673 rồi trở
thành thành viên chức ngân hàng của Mạc phủ năm 1691 tập đoàn kinh tế này đã mau chóng trở thành đại diện tài chính của nhiều lãnh chúa. Từ đó gia đình Mitsui đã phát triển thành một trong những tập đoàn tư bản tư nhân lớn nhất thế giới. Gia đình Yamanaga cũng là một hiện tượng tiêu biểu. Vào đầu thế kỷ XVII, gia tộc này cũng chuyên sản xuất rượu sake. Nhờcó cải tiến kỹ thuật chế biến mà tên tuổi của hãng mau chóng nổi tiếng trong cả nước. Có vốn, họ bắt đầu kiêm thêm kinh doanh vận tải đường biển. Đến năm 1690, tập đoàn Yamanaga đã có sở hữu trên 100 chiếc thuyền có trọng tải lớn vận chuyển thóc gạo cho các lãnh chúa từ miền Tây Nhật Bản về Osaka. Từ năm 1656, tập đoàn kinh tế này quyết định không sản xuất và kinh doanh rượu nữa mà chuyển sang mua bán tiền tệ. Đến cuối thế kỷXVII, Yamanaga đã có quan hệ mật thiết với tất cả 32 han và là một trong những chủ nợ lớn nhất Nhật Bản.
Khi tìm hiểu những phát triển nổi bật của kinh tế Nhật Bản thời Edo, chúng ta cũng
phải chú ý đến một đặc điểm là phần lớn các tập đoàn tư bản công nghiệp nắm giữ mạch máu then chốt ở Nhật Bản về sau đều có nguồn gốc từ thương mại. Trong số những tập đoàn kinh tế lớn đầu tiên thời Tokugawa cũng có một số người xuất thân từ đẳng cấp samurai. Họ được chính quyền trung ương và địa phương giao cho quản lý, phụ trách các ngành sản xuất, buôn bán, thuế quan. Nhờ tích luỹ được kinh nghiệm và lợi nhuận, những công chức hành chính này đã từng bước trở thành thương nhân chuyên nghiệp có lợi ích gắn bó với chế độ Mạc phủ. Họ chính là chỗ dựa tin cậy cho chính quyền phong kiến khi cần nguồn tài chính. Ngược lại, bộ phận thương nhân này luôn được chính quyền nâng đỡ, che chở về chính trị, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh. Sự bảo trợ đó của nhà nước không chỉ hạn chế trọng phạm vi kinh tế đối nội mà còn được thực hiện cả trong quan hệ bang giao và buôn bán quốc tế. Hoạt động nhộn nhịp của thuyền buôn Nhật Bản với các thương cảng châu Á trong thời kỳ Châu ấn thuyền cho thấy rõ tính chất quan liêu của cơ chế này.
Nhưng sau khi Nhật Bản thực thi chính sách đóng cửa đất nước, phương thức kinh
doanh của các Thương nhân – quan lại bắt đầu tỏ ra sơ cứng không còn đáp ứng được sự
chuyển biến mau lẹ của những hình thức vận động mới trong đời sống kinh tế. Nhiều người
trong số đó phải từ bỏ địa vị kinh tế vốn có của mình cho đội ngũ Thương nhân – thị dân
(chonin) và đến đầu thế kỷ XIX là các Doanh thương – tư sản mới kinh doanh theo phương
thức tư bản. Đây chính là những người xuất thân từ các tầng lớp “hèn hạ”. Thương nhân thị
dân tổ chức hiệp hội buôn bán của mình (nakama) rất chặt chẽ nhưng năng động, dễ thích
ứng được với biến động của thị trường. Hoạt động của các hiệp hội sản xuất, buôn bán đều do
một nhóm những nhân vật có thế lực nhất điều hành. Qua quá trình cạnh tranh, những hiệp
hội có ưu thế đã từng bước chuyển thành các tập đoàn kinh doanh lớn. Thế lực của họ không
chỉ bó hẹp trong phạm vi kinh tế mà còn có ảnh hưởng đến cả đời sống chính trị ở Nhật Bản
lúc đó. Các thương nhân lớn ở Osaka, Edo chính là những người quyết định giá cả, tỷ giá trao đổi hàng hoá – tiền tệ và ngoại tệ trên phạm vi cả nước.
Sự phát triển của thương mại và thị trường hàng hoá đã làm thức tỉnh các tiềm năng
kinh tế vốn có. Ở nhiều vùng người ta đua nhau sản xuất đặc sản địa phương với chất lượng
cao để đưa vào thị trường. Thóc gạo, vốn vẫn được coi là “bản vị” để đo sự giàu có và sức
mạnh chính trị của các lãnh chúa phong kiến, cùng với nhiều loại nông, thổ, hải sản khác đã
theo các tuyến vận tải đổ dồn về những trung tâm thương mại lớn như Osaka, Edo… Đến giữa thế kỷ XVII, Osaka được coi là: “Nhà bếp của đất nước”. So với các thành thị khác, “Osaka có lợi thế là nằm ngay ở cửa ngõ của các trung tâm sản xuất hàng hoá vùng Kinai lại ở vị trí đầu mối giao thông của các tuyến giao thông thuỷ, thành thị này trở thành địa điểm chính trung chuyển hàng hoá và hàng ngàn người buôn bán xỉ, thương nhân chuyên phân phối hàng hoá, những buôn kinh doanh tiền tệ, ngân phiếu và cả người vận chuyển quá cảnh đều coi thành thị này như nhà của mình”(12).
Để có thể bán được lương thực với giá cao cũng như để có tiền chi dụng và thực hiện
trách nhiệm phong kiến, phần lớn các lãnh chúa đều phải xây dựng cơ sở buôn bán ở Osaka. Nhưng, do thiếu kinh nghiệm kinh doanh cũng như thiếu vốn, sau một thời gian hầu hết các
thương nhân phong kiến địa phương do lãnh chúa cử ra đã không thể cạnh tranh nổi với
thương nhân thị dân. Trước thực trạng đó, không còn cách nào khác, từ khoảng những năm
1650, các lãnh chúa đều phải mời đại diện các tập đoàn buôn bán chuyên nghiệp sở tại làm
mãi biện. Đổi lại, những người này được hưởng lương như một viên chức võ sĩ và nhiều đặc
quyền kinh tế, xã hội khác. Cảnh tượng các thương nhân thị dân mặc trang phục võ sĩ, đeo hai thanh kiếm, biểu tượng thiêng liêng của Tinh thần võ sĩ đạo (bushi do), làm việc trong các sở giao dịch, cửa hàng không phải là chuyện hiếm thấy ở Nhật Bản thời kỳ này!
Việc tập trung một khối lượng hàng hoá lớn vào các đô thị cùng nhịp độ tăng trưởng
trong lưu thông, trao đổi thực sự là bà đỡ lý tưởng cho thị trường tiền tệ ra đời. Từ những cơ
sở ngoại hối nhỏ, các ngân hàng đầu tiên ở Nhật Bản đã lần lượt được thiết lập và đi vào hoạt
động. Đến năm 1670, hệ thống ngân hàng Osaka được thành lập với Hội đồng điều hành 10
người (Junin ryogae) do một quan chức chính quyển trung ương (bugyo) điều phối. Hệ thống này đã thâu tóm toàn bộ hoạt động tiền tệ ở Osaka, Edo hầu khắp các thành phố và lãnh địa khác. Thanh toán giữ hai trung tâm kinh tế Osaka – Edo đều thông qua Hội đồng này. Việc tham gia của các chủ ngân hàng và thương nhân lớn vào Hội đồng điều hành cùng sự phối hợp quản lý của chính quyền trung ương trong hệ thống ngân hàng đầu tiên này đã phần nào giữ được sự cân bằng thị trường tiền tệ, ổn định sản xuất, tạo ra mạch máu lưu thông cho các hoạt động kinh tế của Nhật Bản. Trên cơ sở đó, giới chủ ngân hàng đã sáng tạo ra nhiều hình thức thanh toán khác tiện lợi như: Chứng từ thanh toán, hoá đơn trao đổi, séc… Các phương tiện thanh toán đó được sử dụng khá phổ biến. Đối với khu vực kinh tế ở xa trung tâm, việc thanh toán được thực hiện bằng hối phiếu thông qua những người môi giới tiền tệ. Có thể nói, về cơ bản các hình thức thanh toán và hoạt động của mạng lưới ngân hàng Nhật Bản thời Edo tỏ ra không hề thua kém so với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường kinh doanh tiền tệ ở nhiều quốc gia phát triển nhất châu Âu cùng thời.
Tuy nhiên, những biến chuyển kinh tế nêu trên không khỏi gây ra những chấn động xã
hội. Sự phân chia các đẳng cấp xã hội thành: Sĩ, nông, công, thương của chính quyền
Tokugawa nhằm ổn định chính trị, khẳng định địa vị, bổn phận của từng đẳng cấp cũng
không thể nào ngăn cản được khuynh hướng phân hoá tự nhiên. Những người theo triết lý
Nho giáo dù có đề cao nghề nông, coi trọng tính cần kiệm… như là giá trị đạo đức cao quý
đến đâu thì cũng không thể quay lưng trước sức cuốn hút của đồng tiền. Xã hội Nhật Bản thời kỳ Tokugawa tuy vẫn mang tính chất của một xã hội nông nghiệp phong kiến nhưng đã chứa đựng trong lòng nó những tiền đề kinh tế tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, trong quá trình vận động của thiết chế chính trị – kinh tế thời kỳ này chúng ta luôn thấy những biểu hiện rõ nét của sựphát triển vượt trội cũng như cách thức quản lý, tổ chức kinh tế mới.
Thời Edo, về thiết chế chính trị sức mạnh của chế độ Mạc phủ là dựa vào sự cân bằng
quyền lực với các lãnh chúa địa phương. Chủ trương chính trị, kinh tế của chính quyền
Tokugawa luôn thể hiện sự cân bằng đó. Bộ luật vũ gia dù chặt chẽ nhưng cũng có những
điểm mở cần thiết cho các lãnh chúa có thể sự vận dụng phù hợp với luật tục, truyền thống
địa phương. Về kinh tế, ngoài nghĩa vụ đóng góp với trung ương nhìn chung các daimyo đều
có thể nắm quyền tự chủ về tài chính. Trách nhiệm phong kiến mà đặc biệt là chế độ sankin
kotai tuy có làm triệt tiêu sức phát triển của một số han nhưng nhìn chung nó cũng đã thúc
đẩy sự năng động, tính độc lập ở nhiều công quốc. Trong phạm vi lãnh địa, để duy trì sự ổn
định xã hội và tăng nguồn thu các daimyo phải không ngừng hoàn thiện phương pháp cùng bộ máy quản lý của mình. Một số nhà kinh tế cho rằng: “Sự phát triển của Nhật Bản đã phần lớn nhờ vào những chính sách kinh tế độc đáo cho các vùng khác nhau của đất nước”(13).
Sau Cải cách Minh trị, chính tiềm lực của các địa phương, chứ không phải trung ương, đã tạo đà cho Nhật Bản đi lên. Thực tế lịch sử cho thấy, vào thời Edo để thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ cho vay nặng lãi (với lãi suất luôn ở mức 15 – 20%) và khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng, các lãnh chúa phong kiến đều phải ít nhiều tham gia vào những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Nhiều samurai đã phải “tạm quên” nguồn gốc cao quý và địa vị xã hội của mình tham gia vào các công việc sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh đó, chính một bộ phận samurai lớp dưới, lớp giữa những người bị sức ép nặng nề nhất của nền kinh tế tiền tệ cũng như được hưởng ít đặc quyền nhất trong giai cấp thống trị đã vươn dậy, trở thành các chủ hãng, thương nhân thậm chí là người đứng đầu cơ sở kinh doanh tiền tệ.
Tuy số lượng các Võ sĩ – thương nhân thành đạt chỉ chiếm thiểu số trong đội ngũ đông
đảo khoảng 2 triệu người thuộc đẳng cấp sĩ lúc đó nhưng sự hiện diện của họ trong các hoạt
động kinh tế, kinh doanh là minh chứng cho những biến đổi lớn của xã hội. Ngoài một số võ
sĩ thành đạt, phần đông những người còn lại hoặc bị suy kiệt về kinh tế hoặc trở thành “con
tin” của thương nhân.
Tên tuổi của nhiều lãnh chúa, đại gia võ sĩ danh tiếng chép đầy trong sổ
nợ của đám “tiện dân” giàu có thành thị. Trong bước cùng quẫn, nhiều người đã phải bán lúa
non, lễ phục và cả thanh kiếm thiêng liêng của mình. Nhưng tương phản với sự suy kiệt về
kinh tế và tình trạng bần hàn của nhiều tầng lớp xã hội thì giới thương nhân thành thị lại có
khả năng tích tụ một lượng của cải lớn. Năm 1705, khi tài sản của một thương nhân chuyên
buôn bán lúa gạo ở Osaka có tên là Yodoya Saburoemon bị shogun tịch thu, tổng số nợ của
các lãnh chúa với ông ta lên tới 121.8767.610 ryo vàng tức là gấp nhiều lần tổng thu nhập
quốc dân của Nhật Bản lúc đó. Khoản nợ này cũng tương đương với thu nhập của Mạc phủ
trong 2 thế kỷ. Hầu hết lãnh chúa ở miền Tây Nhật Bản đều là con nợ của Yodoya!
Việc tập trung một số lượng lớn giai cấp thống trị quan liêu và gia nhân của họ ở
thành thị cùng với quá trình tích tụ tư bản trong tay một số người cũng đã tạo ra khả năng thu hút nhiều lực lượng lao động từ các vùng thôn quê. Bất chấp các lệnh cấm di dân, mọi người đều có trách nhiệm đăng ký hộ khẩu thường trú ở chùa của Mạc phủ, nông dân vẫn bỏ làng kéo vào thành phố. Họ làm đủ mọi nghề để kiếm sống như phục vụ trong gia đình samurai, các sở kinh doanh, nhà trọ, quán ăn, mở quầy tạp hoá, hay làm nghề thủ công. Hy vọng tìm được việc làm với thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp, khuynh hướng đa dạng hoá, mởrộng sản xuất kinh doanh là những nguyên nhân căn bản thúc đẩy quá trình đô thị hoá diễn ra mau chóng thời kỳ này. Thành Edo năm 1624 mới có 150.000 dân thì năm 1693 đã có đến 350.000 người. Nhưng, đến giữa thế kỷ XVIII dân số của thành thị này đã tăng lên đến trên 1 triệu và Edo đã trở thành thành thị đông dân nhất trên thế giới. Nhiều thành thị khác cũng có quy mô dân số lớn như: Osaka, Kyoto: 300.000, Nagoya: 200.000, Kanazawa: 100.000.
Năm 1700, khoảng 10% dân số Nhật Bản sống ở các thành thị có trên 10.000 người. Do đó, có thể khẳng định rằng: “Thành thị đã trở thành nhân tố quan trọng trong đời sống Nhật Bản, trong vấn đề chính quyền và kinh tế, trong sự hình thành nền văn hoá đại chúng và các trào lưu tri thức”(14). Không bị ràng buộc bởi nghiêm lệ của đạo đức phong kiến, cộng đồng thị dân có một lối sống mới theo những tiêu trí của riêng mình: Trần thế, phóng đạt và chính họ đã sản sinh ra dòng Văn hoá thị dân hấp dẫn, đầy sức sống ở Nhật Bản.
3. Kết luận
- Từ các điều trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng thông qua hàng loạt chủ trương
giàu tính sáng tạo, chính quyền Tokugawa đã giải quyết tương đối thành công nhiều vấn đề
đặt ra trong xã hội Nhật Bản lúc đó, đưa Nhật Bản bước vào thời kỳ hoà bình, ổn định lâu dài
nhất trong lịch sử. Môi trường hoà bình, ổn định đó đã tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hoá. Hơn nữa, đó cũng là khoảng thời gian hết sức quý báu để dân tộc Nhật Bản chuẩn bị những lực lượng vật chất cần thiết, tích luỹ kinh nghiệm, định thành một ý thức dân tộc mạnh mẽ chuẩn bị đương đầu với thế giới phương Tây.
- Những đặc điểm tiêu biểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, tôn giáo vốn có ở
Nhật Bản cũng đã góp phần “làm nên lịch sử” thời kỳ này. Trong dòng phát triển liên tục đó,
Tokugawa Ieyasu và những người kế nhiệm ông đã không dễ dàng gạt bỏ những yếu tố
truyền thống mà ngược lại còn kế thừa một cách tích cực các giá trị đó đồng thời luôn tỏ ra
thích ứng với những biến chuyển của thời đại. Trong hơn hai thế kỷ, kinh tế, xã hội Nhật Bản
đã diễn ra nhiều biến chuyển sâu sắc. Những biến chuyển đó đã tạo nên điều kiện khách quan cho Nhật Bản tiến vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ ra đời của một nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên ở châu Á.
- Nếu như so sánh, chúng ta thấy trong thời kỳ lịch sử này, song song với việc thi
hành một đường lối chính trị hà khắc theo kiểu quân sự tập quyền nhằm thiết lập một trật tự
phong kiến chặt chẽ, ổn định Mạc phủ Tokugawa cũng đã thực hiện các biện pháp kinh tế
tương đối cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Sự biệt lập với
thế giới trong hơn 200 năm tuy có làm cho Nhật Bản trở nên lạc hậu, bị triệt tiêu một số yếu
tố kinh tế – xã hội đã bước đầu hình thành trong thời kỳ mở cửa trước đó nhưng ngược lại nó
đã thôi thúc các phát triển nội tại, tạo ra sự hoà đồng về kinh tế, văn hoá trong cả nước, làm
suy giảm tình trạng chia cắt, phân liệt giữa các lãnh địa.
- Những giá trị văn hoá truyền thống cùng với các nhân tố tích cực của Nho giáo,
Shinto… được đề cao đúng vào thời điểm diễn ra những biến chuyển xã hội sâu sắc đã làm
nên xung lực cho sự hình thành một ý thức tâm lý và tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Sự trung
thành, với tư cách là giá trị đạo đức trung tâm đã quy định nên lối sống, hành vi của mỗi cá
nhân (nhóm) hướng vào cộng đồng theo thang bậc của một phả hệ mở kiểu chủ nghĩa gia
trưởng (Paternalism) rất điển hình trong xã hội Nhật Bản.
Chú thích:
1. Một số nhà nghiên cứu lấy niên đại thời Tokugawa (1603-1867), tức là từ khi Tokugawa Ieyashu
được Thiên hoàng phong chức Chinh di đại tướng quân (Seii tai shogun) đến lúc Mạc phủ tuyên bố
trao trả quyền lực cho chính quyền Minh Trị. Theo tôi, từ năm 1600 sau thắng lợi trong trận
Sekigahara, tập đoàn phong kiến Tokugawa đã nắm được quyền lực thực tế ở Nhật Bản và cầm quyền
liên tục cho đến đầu năm 1868 khi tướng quân Keiki phải tuyên bố giao trả đất đai cho Thiên hoàng.
Do vậy, nhìn từ bản chất các sự kiện lịch sử thì niên đại 1600 – 1868 có lẽ là phù hợp hơn.
2. Số lượng các han trong thời kỳ này luôn biến động tuỳ theo chế độ phân phong hay sự thưởng phạt
của Mạc phủ đối với các lãnh chúa. Con số 265 han chỉ là tương đối.
3. Đây chỉ là sự phòng xa thể hiện bản tính của Tokugawa Ieyasu. Thực tế ông có tới 11 vợ và 16
người con (11 trai, 5 gái). Sau khi ông qua đời (1616), Tokugawa Hidetada (mẹ là Saijo) đã kế nghiệp
và trở thành shogun thứ hai.
4. Một koku tương đương với 120kg (180,4l). Đơn vị đo lường này cũng thường thay đổi qua thời gian
và có giá trị tương đối khác biệt giữa các địa phương.
5. David J.Lu, Japan – A Documentary History, Library of Congress Cataloging-in Publication Data,
United States of America, 1997, p.206 – 209.
6. Edwin O.Reischaner – Albert M.Caig, Japan – Tradition and Transfomation, Harvard University,
1989, p.86. 7. Tư tưởng của Hayashi Razan (1583 – 1675) cố vấn các vấn đề pháp luật và lịch sử cho Tokugawa
Ieyasu. Dẫn theo G. B. Samson, Lược sử văn hoá Nhật Bản, Tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
1989, Tr. 275.
8. Michio Morishima, Tại sao Nhật Bản “thành công”? Công nghệ phương Tây và tích cách Nhật
Bản, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991, Tr.31.
9. Arnold Toynbee, Nghiên cứu về lịch sử – Một cách thức diễn giải, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2002,
Tr.256.
10. Takausa Nakamura cộng tác với Bernard R.G. Grace, Phát triển kinh tế của nước Nhật hiện đại,
Bộ Ngoại giao Nhật Bản, 1985, Tr. 27.
11. Shichikei Yamamoto, Văn hoá và kinh tế Nhật Bản, Tập bài giảng về Nhật Bản I trình bày tại
Canada và Mỹ tháng 9 và 10, 1986, Tr.13.
12. Wakita Haruko, Ports, Markets, and Medieval Urbanism in the Osaka Region; in Osaka – The
Merchants’ Capital of Early Modern Japan, James L.McClain – Wakita Osamu (Ed.), Cornell
University Press, 1999, p.59.
13. Shichikei Yamamo, Văn hoá và kinh tế Nhật Bản, Tập bài giảng về Nhật Bản I trình bày tại
Canada và Mỹ tháng 9 và 10, 1986, Tr.10.
14. John W. Hall, The Castle Town and Japan Modern Urbanization; Trong cuốn: Studies in the
Institutional History Early Modern Japan, Princeton University, 1970, p.183.