Pages

Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh. Sống không phải là ký sinh trùng của thế gian, sống để mưu đồ một công cuộc hữu ích gì cho đồng bào tổ quốc. (Phan Chu Trinh )Mở mang dân trí , Chấn động dân khí.Vun trồng nhân tài. Kỳ vọng ở những người làm quan, lấy những sự nghiệp bất hủ khuyên lơn họ được nhiều người xem là có giá trị về phương diện cổ động nhân sĩ và giới cầm quyền có tâm huyết đem tài sức ra giúp nước.(Khi Phan Bội Châu viết tập "Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư" )"Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn và vô trách nhiệm."“Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc [độc lập, tự do] thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng quyết không sợ, huống hồ chúng ta phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền?”“… đối thủ mà các bạn phải tranh đấu về trí tuệ là những người phương Tây. Nếu các bạn thắng trong cuộc đọ sức tri thứ này thì vị thế của nước Nhật Bản sẽ dâng cao trên trường quốc tế. Còn ngược lại, nếu các bạn thua, thì chúng ta, những người Nhật Bản, sẽ mãi mãi thấp kém dưới con mắt người phương Tây.”(Fukuzawa Yukichi) .Tôi tư duy nên tôi hiện hữu; nghĩa là: Vì tôi tư duy nên tôi biết mình hiện hữu.( René Descartes) John Paul II xưng thú tội lỗi tổng quát trong 7 mục sau đây:1. Xưng thú “tội lỗi chung”.2. Xưng thú “tội lỗi trong khi phục vụ “chân lý”.3. Xưng thú “tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”.4. Xưng thú “tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái”.5. Xưng thú “tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”.6. Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”.7. Xưng thú “tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người”

My Blog List

Blogger templates

Socrates (Hy Lạp)

Khi bạn giận dữ, hãy ngậm chặt môi, tránh làm tăng nộ khí của bạn. Người thực sự tài giỏi, chính là người có đủ trí tuệ để giúp đỡ người khác, không để mình bị lừa dối. Socrates (Hy Lạp).

Lão Tử

Hễ còn có lòng ham muốn thì chỉ biết trước được cái hẹp hòi biểu hiện ra bên ngoài chứ không biết được cái vi diện sâu ở bên trong..Ai vâng lời liều, hứa liều, tất nhiên khó lòng đúng hẹn.

Khổng Tử

1.Biết có lỗi mà không sửa thì đó chính là lỗi.2.Người không có chữ tín sẽ chẳng làm nên việc gì. 3.Sự nghiệp chớ nên cầu mong không có chông gai, trắc trở vì không có chúng thì ý chí sẽ không kiên định. 4.Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi. 5.Đừng mong người khác thuận theo ý mình vì nếu được người khác thuận ý sẽ tất sinh tự kiêu..

Đức Phật

Hãy ngừng phán xét, trên nền trời xanh thẳm, chẳng có sự phân biệt Đông - Tây. Chỉ có tâm trí nhầm lẫn của của con người tạo ra sự phân biệt rồi lại tin rằng đó là thật.

Tục Ngữ

Đối với những người không biết làm chủ đầu óc thì sách liệu có mang lại lợi ích gì? Đưa sách cho họ có khác nào đưa chiếc gương cho người mù.

Showing posts with label Hán Quốc. Show all posts
Showing posts with label Hán Quốc. Show all posts

Sunday, December 29, 2013

PHƠI BÀY SỰ THẬT “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”, KẾT TỘI THỦ PHẠM “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”

46 ÔNG GIÀ LỊCH SỬ Ở HAI THÀNH PHỐ THÀNH ĐÔ VÀ TRÙNG KHÁNH KÊU GỌI MẠNH MẼ ĐẢNG CÔNG SẢN TRUNG QUỐC: PHẢI THANH TOÁN TỘI ÁC CHỐNG LẠI LOÀI NGƯỜI CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG !

6.9.2012.
(Tác giả:  46 ông già lịch sử ở hai thành phố Thành Đô và Trùng Khánh)
 Chúng tôi là những ông già lịch sử hơn 70, 80 tuổi, đồng thời cũng là những người đã từng trải qua và là nạn nhân của nhiều chiến dịch chính trị trong 27 năm Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc. “10 năm đại họa” đã trôi qua được 46 năm, vì thế chúng tôi lấy con số 46 để đồng đứng tên ra lời kêu gọi đẫm máu và nước mắt này, với hy vọng toàn Đảng và toàn dân chớ nên quên giai đoạn lịch sử bi thảm, nhói lòng và đau thương ấy.
    Ông Trần Nhất Tư, người từng đảm nhận các chức vụ trưởng nhóm Nhóm nghiên cứu phát triển nông thôn Trung Quốc, giám đốc Trung tâm phát triển nông thôn Quốc vụ viện, ủy viên Ủy ban cải cách thể chế kinh tế Quốc vụ viện, viện trưởng Viện nghiên cứu cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc, tổng thư ký Văn phòng cải cách chính trị Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và phó hội trưởng Hội nghiên cứu cải cách chính trị Trung Quốc nói:
“Trong 30 năm đầu cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc từ 1949-1978, các cuộc “đấu tranh giai cấp” và “vận động chính trị” do Mao Trạch Đông  phát động cứ đợt sau lại tàn khốc hơn đợt trước, khiến cho Trung Quốc đại lục phải trải qua mối đại họa chưa từng có, trở thành một “địa ngục trần gian”. Khi ấy, những con người cư ngụ trên mảnh đất được mệnh danh là “Thần Châu đại địa”, “Lễ nghi chi bang” không người nào là không ngày ngày run sợ sống trong hoảng loạn, không biết khi nào tai ương sẽ đến với người nhà hay người thân của mình. Hầu như các giới tinh anh không sót một ai đều lần lượt bị đánh, phê và làm nhục, thậm chí còn phải xa lìa vợ  con, gia đình tan nát chết chóc. Trong vòng 30 năm, Mao Trạch Đông đã tạo ra 8,3 triệu oan hồn, 30 triệu án oan, hơn 300 triệu người bị đấu tố, có thể nói, Mao Trạch Đông coi mạng người như cỏ rác, tội ác gây án oan khắp thiên hạ đã vượt quá tội ác của tất cả các bạo chúa trong lịch sử cộng lại.”
Mao Trạch Đông năm 1966 lại một lần nữa kỳ công trù hoạch “đại họa” cướp sạch nền văn minh của lịch sử nhân loại – “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Vì sao ông ta lại phải phát động cái gọi là “Đại cách mạng văn hóa vô sản”? Nhằm 2 mục đích:  Một là để thoát ra khỏi sự bế tắc chính trị cá nhân, đoạt lại quyền lãnh đạo đã bị mất vì tam niên nhân họa, mưu đồ đùn đẩy tội ác gớm guốc bỏ đói hơn 37,5 triệu người cho chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và cán bộ các cấp. Vì thế mà ông ta phải giết người diệt khẩu, mượn lực lượng quần chúng để làm mất uy tín của Lưu Thiếu Kỳ trước hàng loạt cán bộ lãnh đạo các cấp có tranh cãi và bất mãn với ông ta; hai là để tăng cường sự độc tài cá nhân “Marx và Tần Thủy Hoàng” thì buộc phải biến thiên hạ do Đảng cộng sản cầm quyền thành “thiên hạ nhà họ Mao” cha truyền cho con, con truyền cho cháu, để soán cải giai đoạn lịch sử ông ta đang cầm quyền thành một bộ mặt hoàn toàn khác, truyền lại cho hậu thế hình ảnh một “thánh quân” thiên hạ. Muốn đạt được mục đích này buộc phải làm cuộc “vận động quần chúng” coi trời bằng vung một lần nữa.
Mao Trạch Đông suốt đời đầy những thủ đoạn ứng biến, rất biết cách làm sao để huy động được năng lượng thói xấu của con người. Bắt đầu từ năm 1965, đầu tiên ông ta mượn tay Giang Thanh xúi giục Diêu Văn Nguyên soạn thảo, công bố bài “Bình về vở kịch lịch sử tân biên “Hải Thụy bãi quan”, để làm khúc dạo đầu cho “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Tháng 4.1966, để tiêu diệt Thành ủy Bắc Kinh do Bành Chân đứng đầu, Mao Trạch Đông đã phát độnh chiến dịch “Tam gia thôn” hàng vạn khẩu pháo cùng nổ, Canh Tức, Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạt Sa bị chụp mũ phản Đảng, phản chủ nghĩa xã hội, phản tư tưởng Mao Trạch Đông, bị bãi quan cách chức, giam giữ, cách li thẩm tra. Đặng Thác bị bức tự sát ngày 16.5.1966; một bí thư Thành ủy Bắc Kinh trở thành oan hồn đầu tiên trong “Đại cách mạng văn hóa vô sản” của Mao Trạch Đông (vào ngày này “Nhân dân nhật báo” đăng “Thông báo ngày 16.5” về Đại cách mạng văn hóa). Không lâu sau, cả  nhà phó bí thư Thành ủy Bắc Kinh Ngô Hàm cùng vợ là Viên Chấn và cô con gái đã tự vẫn. Kế đến là các vụ tự sát của nhà văn Lão Xá, nhà sử học Tiễn Bá Tán. Tiếp nữa là thư ký của Mao Trạch Đông Điền Gia Anh đã ôm hận tự sát (?) tại Vĩnh Phú Đường Trung Nam Hải  ngày 23.5.1966, với tội danh “thay đổi trước tác của Mao chủ tịch”. Khi chỉnh lý kỷ yếu các bài nói của Mao Trạch Đông, ông ta đã gạch bỏ phần “Cái hiểm của Hải Thụy bãi quan”.
    Họ đều bị tội xúc phạm đến Mao Trạch Đông chỉ vì đã viết các bài phê phán Diêu văn Nguyên và biện hộ cho Ngô Hàm, mọi người gọi họ là “Ngũ quân tử Bính Thìn”. Tiếp đó, Mao Trạch Đông ra mặt ủng hộ “Tạo phản đại tự báo” của Nhiếp Nguyên Tử ở Đại học Bắc Kinh, nhưng vẫn cảm thấy hỏa lực chưa đủ mạnh, thế là liền đích thân vung dao quăng ra “Đại tự báo của tôi – Bộ tư lệnh nã pháo”. Rồi sau đó 8 lần tới lầu thành Thiên An Môn gặp mặt “Hồng vệ binh” toàn quốc, đưa ra khẩu hiệu phi nhân tính, vô nhân đạo “quét sạch bọn đầu trâu mặt ngựa”, “đập tan phong kiến, chỉnh sửa tư bản”, khuyến khích những con búp bê non nớt đứng lên “tạo phản”, “đoạt quyền”, thả sức đánh, đập, cướp, tịch thu, nhen lên ngọn lửa tà dữ dội “đánh đổ phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Bỗng chốc trật tự xã hội đang yên ổn hòa bình trở nên cực kỳ hỗn loạn, Mao Trạch Đông vẫn hồ nghi rằng chưa đủ loạn, lại đưa ra tiếp chủ trương vô chính phủ “đập tan công kiểm pháp”, “hất bỏ đảng ủy làm cách mạng”, đồng thời lấy danh nghĩa “tam chi lưỡng quân” để kích động “đấu tranh vũ trang”quy mô lớn trên toàn quốc. Bỗng chốc tiếng súng vang lên, xác chết đầy đồng, tiếng khóc mất con mất chồng dậy khắp phố xóm.
Trong thời gian này, “Hồng vệ binh” với sự xúi giục của Mao Trạch Đông đã tịch thu gia sản, đập phá di tích một cách say máu, thả sức đánh người giết người, thật đúng là “coi trời bằng vung” như Mao vạn tuế đã nói.
  Cả một dải Thần châu đại địa đẫm tanh mùi máu, Xích huyện Cửu vực thương tích chất chồng. Theo thống kê chưa đầy đủ, từ 18.8 đến 7.12 năm 1968, cả nước lần lượt có tới hàng chục vạn người bị hồng vệ binh đánh cho đến chết, có tới hơn 10 triệu hộ bị tịch thu gia sản. Chỉ riêng thành phố Bắc Kinh là đất tốt lành nhất đã có hơn 114 ngàn hộ bị tịch thu gia sản. Thượng Hải có 10 vạn hộ bị tịch thu gia sản, huyện ngoại thành Xuyên Sa, một huyện nhỏ với hơn 500 ngàn nhân khẩu, đã có tới 7800 hộ gia đình bị tịch thu gia sản. Ở tận Thắng Huyện, Chiết Giang xa xôi có hơn 8 ngàn hộ bị tịch thu gia sản. Ngay cả huyện tự trị dân tộc Di-Cáp Nê Giang Thành, Vân Nam ở nơi xa xôi hẻo lánh cũng có tới 565 hộ bị tịch thu gia sản. Thành phố Uy Hải, Sơn Đông chỉ riêng giới công thương, giới văn hóa đã có 275 hộ bị tịch thu gia sản.
    Về mặt tàn phá di tích lịch sử lại càng khiến cho lòng người quặn thắt. Thành phố Bắc Kinh, trong số 6843 di tích chính phủ ra lệnh bảo vệ ở lần tổng điều tra đầu tiên vào năm 1958, đã có tới 4922 di tích bị phá ở các mức độ khác nhau. Hồng vệ binh ở Học viên thể thao Bắc Kinh còn nhảy cả lên Phật hương các “Di hòa viên” để đập vỡ tượng Phật “Thích Ca Mâu Ni”. Hơn 200 hồng vệ binh ở Đại học sư phạm Bắc Kinh đã chạy đến Khổng Miếu Khúc Phụ ở Sơn Đông để tạo phản, triệu tập cuộc họp hàng vạn người đập phá Khổng Miếu, rồi còn gửi điện cho Mao Trạch Đông nói: “Mao chủ tịch kính yêu: Chúng cháu đã tạo phản!  Chúng cháu đã tạo phản! Bức tượng mộc Khổng Tử đã bị chúng cháu lôi đi, bức hoành phi “Vạn thế sư biểu” đã bị chúng cháu  giật xuống, mộ Khổng Tử đã bị chúng cháu san phẳng, tấm bia ca công tụng đức đế vương phong kiến đã bị chúng cháu đập vỡ, các tượng mộc trong Khổng Miếu đã bị chúng cháu đập vỡ sạch…”, chỉ riêng hồng vệ binh do Đàn Hậu Lan ở Đại học sư phạm Bắc Kinh cầm đầu đã đập phá tổng cộng hơn 6000 di tích, đốt hơn 2700 cổ thư, hơn 900 cổ tự họa, đập hơn 1000 tấm bia các đời, trong đó có hơn 70 di tích được nhà nước xếp hạng, đốt hơn 1000 trân bản thư tịch, gây tổn thất không gì bù đắp nổi cho đất nước.
  Các lăng mộ của những người nổi tiếng khác, như Viêm Đế Lăng, mộ Thành Cát Tư Hãn, mộ Chu Nguyên Chương, mộ Hạng Vũ, mộ Hoắc Khư Bệnh, mộ Trương Trọng Cảnh, mộ Gia Cát Lượng, mộ Nhạc Phi, mộ Viên Sùng Hoán, mộ Vương Hy Chi, mộ Ngô Thừa Ân, mộ Ngô Kính Tử, mộ Bồ Tùng Linh, mộ Trương Chi  Động, mộ Khang Hữu Vi, mộ Từ Chí Ma, mộ Phó Bao Thạch, mộ Từ Bi Hồng, mộ Trương Tự Trung, mộ Cù Thu Bạch… đều bị phá sạch. Bạch Mã Tự ở Thành Đông Lạc Dương dựng vào năm Đông Hán Vĩnh Bình thứ 11 (năm 618),  dựng lại năm Gia Tĩnh đời Minh (năm 1556). Đây là ngôi đền Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc bị hồng vệ binh phát động nông dân sống gần đó đập phá. Thập La Hán Đường bị phá sạch sành sanh. Cuốn “Kinh Pattna” do một vị cao tăng Ấn Độ mang tới từ 2 ngàn năm trước đã bị đốt. Viên ngọc quí hiếm “Bạch Ngọc Mã” bị đập vỡ tan. Mấy năm sau, Hoàng thân Norodom Sihanouk nguyên thủ quốc gia Campuchia muốn đến triều bái ở Bạch Mã Tự, thủ tướng Chu Ân Lai đành phải cho đưa 18 vị La Hán từ Bích Vân Tự ở Hương Sơn Bắc Kinh và Kinh Pattna tàng trữ ở Cố cung đến Bạch Mã Tự  ở Lạc Dương, nhằm che đậy sự man rợ và tội ác của Đại cách mạng văn hóa.
   Đại Phật tựa lưng vào Điểu Vưu Sơn, nhìn ra Thanh Y Giang ở Lạc Sơn Tứ Xuyên cao tới 70 m, hồng vệ binh phá không nổi, liền chặt đầu cả 500 vị La Hán ở Điểu Vưu Tự nằm phía sau. Hồng vệ binh Đại học Sơn Tây  đến thánh địa Phật giáo Ngũ Đài Sơn phá Tứ cựu, đập nát miếu mạo tượng Phật, tổ chức họp đấu tố các nhà sư và ni cô, sau đó cưỡng bức 289 nhà sư và ni cô hoàn tục, quay về làm xã viên trong các đội sản xuất ở nguyên quán. Trong địa phận huyện Châu Chí Thiểm Tây còn lưu giữ được thánh địa Đạo giáo “Thuyết kinh đài” 2500 năm, theo truyền thuyết là nơi tác giả của “Đạo đức kinh” thuyết giảng. Ngôi Đạo quán này với Thuyết kinh đài làm trung tâm, trong vòng bán kính 10 dặm phân bố rải rác hơn 50 di tích, kể cả Tông thánh cung do Đường Cao Tổ Lý Uyên xây dựng, đã bị phá hủy trong Đại cách mạng văn hóa, hồng vệ binh ra lệnh bắt các đạo sĩ phải cắt tóc cạo râu, hoàn tục lập gia đình. Đại giáo đường Nicholas ở Cáp Nhĩ Tân là một trong hai đại giáo đường chính thống duy nhất trên thế giới (tòa còn lại ở Nga), tất tật kiến trúc cùng kinh quyển, vật dụng của Đại giáo đường đều bị hồng vệ binh đập phá.
 Lương Tấu Minh, người từng đấu tranh thẳng cánh với Mao Trạch Đông, khi nhớ lại cảnh hồng vệ binh tịch thu gia sản đã nói: “ Chúng xé sách, đập đồ cổ, rồi còn vừa xé vừa chửi rủa là “đồ của chế độ phong kiến”, cuối cùng ra lệnh một tiếng chất hết ra sân rồi đốt tất cả những thư tịch và tự thư từng được 3 đời cố nội, ông nội và cha tôi đích thân mua từ đời Thanh, còn có cả những thứ tự tôi gìn giữ. Hồng vệ binh tự khiêng tự đốt, rồi còn vây xung quanh hô khẩu hiệu. Khi hồng vệ binh ôm ra 2 bộ sách đồ sộ “Từ nguyên” và “Từ hải”, tôi chạy tới ngăn lại. Tôi bảo, đây là 2 bộ sách công cụ mà ai cũng cần đến nó, hơn nữa lại là của một học sinh nước ngoài cho tôi mượn, nếu mà đốt mất thì làm sao trả lại cho chủ của nó được. Hồng vệ binh đã phớt lờ tôi, vẫn cứ ném 2 bộ sách vào trong biển lửa, lại còn nói thêm: ‘Tiểu tướng hồng vệ binh cách mạng bọn tôi có “Tân Hoa từ điển” là đủ rồi’. Hồng Học Gia, Du Bình Bá vào thập kỷ 50 bị Mao Trạch Đông khâm định là “học giả phản động tư sản”, từ khi là đối tượng công kích trọng điểm của hồng vệ binh, lúc bị tịch thu gia sản chúng đã nhét vào bao tải tàng thư của mấy đời dòng họ, châm một mồi lửa đốt luôn cả những tư liệu nghiên cứu về “Hồng lâu mộng” mà Du Bình Bá lưu giữ. Cựu bộ trưởng giao thông Chương Bá Quân là “đại hữu phái” có tiếng, tàng thư có tới hơn vạn quyển, chỗ ở của ông đã bị hồng vệ binh của một trường trung học gần đó chiếm dụng làm “Tổng bộ hồng vệ binh”. Khi mùa đông đến, đống tàng thư của họ Chương trở thành nguồn nhiên liệu sưởi ấm suốt ngày đêm cho bọn đầu sỏ hồng vệ binh, sau đó, trừ một số ít bản tốt được lưu giữ ở Thư viện Bắc Kinh ra, còn lại đều bị đưa vào nhà máy giấy để làm bột giấy. Ở Thượng Hải, những cuốn sách được họa sĩ Lưu Hải Túc cất giấu kĩ đã bị hồng vệ binh tịch thu, chất đống ngoài đường đốt suốt hơn 5 giờ đồng hồ, số tự thư bị đốt cháy không đếm xuể. Phó giám đốc Bảo tàng văn sử trung ương Thẩm Y Mặc là đại gia thư pháp nổi tiếng khắp thiên hạ, ông lão họ Thẩm 84 tuổi sợ những bức “thư họa phản động” của mình sẽ mang họa đến cho người thân, lại lo rằng khi đốt có người nhìn thấy sẽ tố giác, tội gấp bội lần, nên đã đem xé nát tất cả những tác phẩm mà mình đã tích lũy được cùng một loạt những tác phẩm đích thực của các đại thư pháp gia đời Minh Thanh, cho vào chậu nước ngâm thành bột giấy, rồi vo viên lại cho người thân xách ra khỏi nhà lúc đêm khuya vắng lặng, vứt xuống sông Tô Châu. Nhà bồi tự họa là ông già Hồng Thu Thanh được người đời gọi là “thần y” của cổ tự họa, từng bồi cho không biết bao nhiêu di vật hạng quốc bảo, như tranh sơn thủy của Tống Vi Tông, tranh mặc trúc của Tô Đông Pha, các tác phẩm của Văn Vi Minh và Đường Bá Hổ…; những bức tự họa của các danh nhân mà mình đã dành hết gia sản, đem hết tâm huyết gìn giữ đã bị hồng vệ binh cho một mồi lửa, ông nói trong nước mắt:  Tự họa nặng hơn 100 cân, đốt mãi à!” Họa gia Lăng Hư ở Đào Hoa Ổ mộc khắc niên họa xã, Tô Châu, có bức “Ngư lạc họa sách” dài tới 50 thước vẽ vào thập kỷ 50, từng được coi là quốc bảo tặng Tổng thống Indonesia Sukarno; hàng ngàn bức cổ bản họa ở các nơi trên đất Trung Quốc mà ông đã bỏ ra cả mấy chục năm trời để sưu tập cũng khó lòng thoát khỏi thảm họa giống như các tác phẩm hạng quốc bảo khác của ông,  đã bị hồng vệ binh đốt sạch.
Điều đáng sợ hơn cả là,  “phái tạo phản” ở khắp nơi trên cả nước ngoài việc đại sát đặc sát những người không cùng quan điểm với mình ra, Đại Hưng ở Bắc Kinh và Đạo Huyện ở Hồ Nam, còn tiến hành thảm sát cả nhà cái gọi là 5 loại phần tử “địa phú phản hoại hữu”, ngay cả đứa trẻ lên 3 cũng không tha, thật là bi thảm nhất trần gian, xưa nay chưa từng có. Xin hỏi là tội của ai?
Có tư liệu cho biết, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi từ 6.1966 đến 11.1974, có tới hơn 120 vị lãnh đạo Đảng và nhà nước, hơn 12 000 người thuộc giới trí thức tinh anh văn hóa  khoa học kĩ thuật đã bị Mao Trạch Đông trực tiếp và gián tiếp bức hại cho đến chết hoặc tự sát. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong 10 năm đẫm máu này, cả nước có hơn 100 triệu người bị chỉnh đốn, 20 triệu người bị chết. Đây là tội lỗi tột cùng!
Ai là tên thủ phạm của “Đại cách mạng văn hóa”?
Mao Trạch Đông!
Ai là kẻ đầu sỏ  “đại họa”?
 Mao Trạch Đông!
Đại cách mạng văn hóa đã hủy hoại lịch sử văn hóa 5 ngàn năm của dân tộc Trung Hoa cùng những trí thức cũ mới đã kiến tạo nên nền lịch sử văn hóa ấy,  từ Khổng Tử, Mạnh Tử 2000 năm trước đến Ngô Hàm, Đặng Thạc ngày nay. Thực tế, những người bị ông ta loại bỏ đều là những viên ngọc báu trong nền văn hóa dân tộc Trung Hoa, là những bậc tinh anh trong giới trí thức. Mao Trạch Đông đã đem các phẩm chất đạo đức truyền thống trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, ôn, lương, cung, kiệm của dân tộc Trung Hoa vứt bỏ đi như giẻ rách, chẳng thèm phân biệt cặn bã với tinh hoa. Rồi hậu quả là: Uy tín của đảng đã bị rơi xuống tận đáy, văn hóa mất gốc, kinh tế sụp đổ, tà ác lên ngôi, đạo đức của người dân đại thụt lùi; trong con mắt của dân chúng thế giới, Trung Quốc trở thành một quốc gia ngu muội, dốt nát, dã man, không có nhân quyền, tà ác.
Thế nhưng Đảng cộng sản Trung Quốc cho đến tận giờ vẫn chưa kết án  tên thủ phạm Đại cách mạng văn hóa, cho đến tận giờ vẫn chưa thanh toán tội ác của tên đầu sỏ “đại họa”, nhận tội và chịu hình phạt thay cho Mao Trạch Đông là “Bọn 4 người” và “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu”. Quả tình “Bọn 4 người” và “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu” có làm không ít những chuyện xấu xa, nhưng chúng hành sự là tuân theo ý chỉ của  Mao Trạch Đông, chúng chẳng qua chỉ là một bầy chó dữ được nuôi dưỡng trong vòng tay của Mao Trạch Đông. Chó dữ cắn người thì phải diệt, lẽ nào Mao Trạch Đông là kẻ dung túng cho chó dữ làm càn lại không đáng phải gánh trách nhiệm tội lỗi hay sao?  Đảng cộng sản Trung Quốc  không dám đối mặt với sự thật lịch sử, vẫn tôn ông ta là “lãnh tụ”, “vĩ đại”. Đó là sự coi thường sự bình đẳng giữa con người với con người trước luật pháp, là sự xúc phạm đạo đức, ai sẽ dẹp yên được? Và rồi ai sẽ lại dẹp yên được đây?
      Còn sở dĩ nước cộng hòa nhân dân ngày nay pháp chế chưa được khai mở, thật giả đảo điên, thiện ác lẫn lộn, đen trắng bất phân, tham lam bạo ngược, không tôn trọng nhân quyền, thờ ơ với sinh mệnh, chính quyền đánh người, cảnh sát hành  hung, tất cả đều là ác quả của việc tên thủ phạm, tên đầu sỏ “Đại cách mạng văn hóa” Mao Trạch Đông vẫn chưa phải chịu sự thanh toán tội ác cần có. Đảng cộng sản Trung Quốc đòi hỏi 1,3 tỉ dân các giới trên toàn Trung Quốc phải tuân thủ luật pháp, nhưng với Mao Trạch Đông thì lại đi ngược lại luật pháp đạo lí. Người xưa nói: Trách người trước tiên hãy tự trách mình.
       Vì lí do này, chúng tôi mạnh mẽ kêu gọi “Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc” và “Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc”: Phải thanh toán những tội ác ghê tởm mà tên thủ phạm “Đại cách mạng văn hóa”, tên đầu sỏ “đại họa” Mao Trạch Đông đã phạm phải! Hãy làm một cuộc  chuyển giao thế hệ cho lịch sử! Hãy trả lại cho xã hội một sự công bằng!
       Chúng tôi đặc biệt kiến nghị các bậc tinh anh tham dự Đại hội 18:
1.  Lập tức thanh toán triệt để những tội ác ghê tởm mà Mao Trạch Đông đã gây tai ương chuốc họa cho tổ quốc và nhân dân, gỡ bỏ chân dung ông ta   khỏi Thiên An Môn, đem cái thi thể rữa nát của ông ta ra khỏi quảng trường.
2.  Chấm dứt truyền bá tất cả những bài hát, bộ phim, phim truyền hình và tạp chí sách vở ca ngợi Mao Trạch Đông, nhằm giúp ích cho việc gắn kết mọi lực lượng dân chúng tề tâm hiệp lực xây dựng một nước Trung Quốc mới tự do, phồn vinh, giàu mạnh.
Danh sách 46 ông già lịch sử ở 2 thành phố Thành Đô và Trùng Khánh: Tưởng Văn Dương, Lý Quốc Nguyên, Phiên Thái Tài, Vương Nghĩa Trân, Vương Chí Nhân, Vương Phục Nam, Trịnh Hán Sinh, Trình Thế Quang, Ngô Hồng Quang, Lâm Hiến Quân, Ngưu Lập Hoa, Ngô Khởi Thành, Viên Chính Tâm, Tiêu Cập Trung, Lưu Bích Quần, Cảnh Lương Thìn, Chu Khánh Quang, Vương Thiệu Mẫn, Lý Nghi Lương, Từ Quý Chính, Thiết Lưu, Ô Tích Xương, Đường Đạo Phú, Lưu Văn Giới, Quách Viêm, Khuất Sở Bình, Trương Bình Trung, Ngải Phong, Hoàng Bảo Tùng, Vương Trọng Cương, Phương Chí Siêu, Diệp Thức Lễ, Phạm Cự Minh, Thầm Đông Hợi, Liêu Xích Minh, Bành Mộ Đào, Khâu Định Quốc, Lâm Tịch Ánh, Hùng Tập Lễ, Hồ Sùng Trinh, Điền Công Lượng, Phòng Nhượng Hỷ, Ngô Giới Cầm, Triệu Quần, Tưởng Văn Khâm, Chu Quốc Can, Tống Trạch Vũ, Dương Minh Truyền, Du Quốc An, Dương Thiểu Tây, Hạ Thành Nghiệp, Hà Lập Giản, Đàm Tuấn Xương, La Khai Văn, Phạm Trung Châu.
Điện thoại liên lạc ở Trùng Khánh:  023-68108800
Điện thoại liên lạc ở Thành Đô:  18228152159
Ngày 6 tháng 9 năm 2012.
Xin đặc biệt lưu ý:   Danh sách này không được lưu trên điện thoại, chủ yếu để tránh sự tấn công quấy rối của các phần tử Mao phái. Chúng tôi không sợ chúng, bởi đó là một bang phái lưu manh côn đồ bất chấp đạo lí luật pháp, hễ cất lời là những câu bẩn thỉu tục tĩu, ngoài những lời chửi rủa uy hiếp khủng bố ra, không có được mấy tiếng người. Quan điểm của chúng tôi là bất biến: Phê Mao đến tận cùng, kiên quyết không thoái bộ. Nếu các phần tử Mao phái thấy quan điểm của chúng tôi là không đúng, thì xin mời viết bài phản bác, nếu cho là chúng tôi bất chấp tình lý, thì có thể tố cáo với cơ quan công an cho đến khi tòa án khởi tố, nhưng không được giở thói côn đồ.
 
Nguồn: boxun.com

Thảo phạt Ban Tuyên huấn Trung Ương (TQ)

Tiêu Quốc Tiêu
Lãng tử chú thích
“Thảo phạt” (讨伐 tǎo fá) chữ Tàu có nghĩa là “Dùng binh đánh kẻ có tội”. Cần phải kể tội trước (thảo: có bộ ngôn/lời nói bên trái 讨) sau mới dùng binh (phạt: có bộ qua bên phải: hình cây giáo có ngạnh trên đầu 伐).
Vậy, trước hết  cần kể tội, đó là bài viết của GS Tiêu Quốc Tiêu ở Bắc Kinh. Còn khi nào dùng cây giáo thì chưa biết…
Giang Nam Lãng tử
Thảo phạt Ban Tuyên huấn Trung Ương
 Nguyễn Thành Tiến dịch
 Ban Tuyên huấn TW là cơ quan của TW ĐCS Trung Quốc chuyên lãnh đạo công tác văn hoá, tuyên truyền, dư luận, báo chí… (được mệnh danh là “Thái thượng hoàng” của báo chí). trong thời kỳ trước và sau Cách mạng Văn hoá, Mao Trạch-Đông (Mao) đã từng gọi Ban Tuyên huấn TW do Lục Định Nhất, Chu Dương… lãnh đạo là “Điện Diêm vương” bởi nó chuyên bảo vệ phái hữu để chống lại phái tả. Trong lịch sử Trung Quốc, lãnh đạo Ban Tuyên huấn TW thường là vật hy sinh của các cuộc đấu tranh chính trị. Giữ chức vụ trưởng Ban Tuyên huấn TW qua các thời kỳ gồm có: Lục Định Nhất, Tập Trọng Huân, Đào Chú, Trương Bình Hóa, Hồ Diệu Bang, Vương Nhiệm Trọng, Đặng Lực Quần, Chu Hậu Trạch, Đinh Quang Căn, Vương Nhẫn Chí… Trưởng Ban Tuyên huấn TW hiện nay là Lưu Vân Sơn. 
Ông Tiêu Quốc Tiêu, Giáo sư khoa Báo chí Đại học Bắc-kinh, đã đứng trên lập trường của ĐCS Trung Quốc phê phán Ban Tuyên huấn TW bằng một bài viết khoảng 14 ngàn từ. Sau đây là phần nội dung cốt lõi nhất.

Chỗ “thắt cổ chai” trên con đường phát triển văn minh của xã hội Trung Quốc là cái gì ?
– Là Ban Tuyên Huấn TƯ (đại diện cho cả hệ thống tuyên huấn). 
Kẻ vác đá ghè chân mình là ai?
-  Là Ban Tuyên Huấn TƯ. 
Ai đã dung dưỡng bao che cho những phần tử hủ bại ?
- Là Ban Tuyên Huấn TƯ. 
Vậy nó nói lên điều gì ? Tất cả mọi người đều biết ở Trung Quốc không có nhiều tự do báo chí, thậm chí là rất ít. Thử hỏi ai đã cân đong bớt xén quyền tự do vốn rất ít ỏi ấy của báo chí Trung Quốc?
- Chính Ban Tuyên Huấn TƯ. 
Mức độ tự do báo chí là thước đo của văn minh xã hội. Các nhà triết học tiền bối phương Tây đã nói: “Có thể không có chính phủ nhưng không thể không có tự do báo chí”. Ban Tuyên Huấn TƯ đã coi báo chí như kẻ thù, ngay cả 4 chữ “tự do báo chí” cũng không được phép dùng tùy tiện. Điều đó chứng tỏ là họ đã chà đạp lên những chuẩn mực tối thiểu nhất của văn minh. Ban Tuyên Huấn TƯ đã rơi vào “cái lô-cốt” ngu muội và lạc hậu nhất. Những niềm tin, nỗi buồn đạt được bằng sự lãnh đạo của Ban Tuyên Huấn TƯ đồng thời cũng làm cho hình tượng của Đảng và Chính phủ cùng những văn minh tiến bộ của đất nước phải trả giá đắt. 
Nếu như cứ chấp nhận sự hoành hành vô lối của Ban Tuyên Huấn TƯ, tiếp tục gây tai họa cho đất nước, thì không chỉ riêng nó vĩnh viễn rơi xuống địa ngục, mà sự nghiệp cải cách vĩ đại của Trung Quốc sẽ tan thành mây khói, hàng triệu trí thức nhân văn cũng sẽ không ngẩng cao đầu lên được. Do đó, chúng ta phải “xả thân phấn đấu để thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ”. 
14 CHỨNG NAN Y CỦA Ban Tuyên Huấn TƯ 
Thứ nhất: Dùng phép phù thủy làm phương pháp công tác
Hôm nay không được nêu vụ Tưởng Ngạn Vĩnh, ngày mai không được nhắc lại vụ dịch SARS, ngày kia cấm đăng việc này việc nọ, không được nói báo chí là “công cụ xã hội”… đại loại như vậy. Thử hỏi những lệnh cấm ấy của Ban Tuyên Huấn TƯ là từ đâu và do đâu? những cái “không được” của họ là vô căn cứ, hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính áp đặt, chúng không dựa theo một chuẩn mực cơ bản nào của văn minh nhân loại cả, mà trái với những kiến thức khoa học cơ bản. 
Thứ hai: Vận dụng uy quyền của giáo hội La Mã
Nói đúng ra thì Ban Tuyên Huấn TƯ hiện tại chẳng khác gì Giáo hội La Mã hồi Trung cổ: Quyền lực đầy mình, độc ác và đẫm máu; kẻ nào chống lại thì ít nhất cũng phải chịu “sứt đầu mẻ trán”, nếu như không bị voi giày cọp xé. Báo chí giám sát chỗ này chỗ nọ nhưng đâu dám giám sát Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xử lí biết bao phóng viên, tổng biên tập nhưng nào có mấy ai dám ho he? Lẽ nào họ xử đúng cả? Hiện nay các Bộ và Ban Ngành của Chính phủ đều hoạt động đúng luật, tuy mức độ chấp hành pháp luật có khác nhau nhưng dù sao thì cũng có luật để mà theo; còn Ban Tuyên Huấn TƯ ra lệnh thì chẳng theo luật nào cả. Như vậy ở Trung Quốc duy nhất chỉ có Ban Tuyên Huấn TƯ là hoạt động không theo luật, họ là “vương quốc tối tăm” mà ánh sáng của “mặt trời pháp luật” không chiếu tới. 
Thứ ba: Đơn giản chữ viết theo kiểu Nhật
Trong lịch sử, việc đơn giản chữ viết ở Nhật Bản đã từng xâm nhập vào Trung Quốc, biến “xâm nhập” thành “tiến xuất”. Ban Tuyên Huấn TƯ không coi đó là điều bất cập, mà bảo không nên nhắc lại cái sai của lịch sử. Những cụm từ gợi lại nỗi đau của đất nước như: “cuộc đấu tranh chống hữu khuynh”, “cách mạng văn hoá”, “sự kiện Thiên An Môn (1989)”, “hàng chục triệu nông dân chết đói”… đều là những cụm từ nên tránh sử dụng. Tất cả những cái đó khiến cho báo giới và các nhà học thuật không thể nào chấp nhận được còn dân chúng thì cảm thấy đau lòng, tuyệt vọng. 
Thứ tư: Sát thủ của Hiến pháp
Tự do ngôn luận (báo chí-xuất bản) là quyền được Hiến pháp nước CHND Trung Hoa bảo hộ. Theo đạo lý thì Ban Tuyên Huấn TƯ đã là cơ quan tuyên truyền của ĐCS Trung Quốc thì phải là người bảo vệ quyền tự do ngôn luận ấy. Nhưng trên thực tế họ lại là kẻ xâm hại nặng nề nhất quyền tự do ngôn luận. Họ đã dùng trăm phương ngàn kế chà đạp lên quyền tự do ấy. Cho nên, muốn bảo vệ Hiến pháp thì không thể không “thảo phạt” Ban Tuyên Huấn TƯ. 
Thứ năm: Phản bội lý tưởng cao cả của ĐCS Trung Quốc
Những năm 40 của thế kỷ XX, thời kỳ đấu tranh chống chế độ chuyên chế Quốc dân đảng là thời kỳ vẻ vang huy hoàng nhất của ĐCS Trung Quốc. Vậy mà học giả Tiếu Tú tập hợp lại những bài xã luận đã đăng trên “Tân Hoa nhật báo” Trùng Khánh, “Giải phóng nhật báo” Diên An… phát hành trong thời kỳ đó để in thành sách “Những tiếng nói đầu tiên của lịch sử” thì lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán. Những tiếng nói tự do dân chủ trong thời kỳ đó đối với Trung Quốc là rất có ý nghĩa, chúng đại biểu cho những bài viết có phương hướng văn hoá tiến bộ, vậy mà nay lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm xuất bản, thì cũng đủ chứng tỏ họ là kẻ thù của lý tưởng ban đầu của ĐCS Trung Quốc rồi. 
Thứ sáu: Truyền bá tư duy chiến tranh Lạnh
Câu nói bất hủ của Mao: “Phàm là những gì kẻ thù phản đối thì ta ủng hộ, phàm là những gì kẻ thù ủng hộ thì ta phản đối” đến nay vẫn là phương châm được Ban Tuyên Huấn TƯ vận dụng để chỉ đạo báo chí tuyên truyền và coi đó là “kim chỉ nam” cho hành động. 
Thứ bảy: Cắt xén, cản trở thực hiện tinh thần chỉ đạo của Trung ương chứ không phải quán triệt tinh thần ấy 
Có một số đồng chí nhà báo thường lên Ban Tuyên Huấn TƯ để “lãnh chỉ” hoặc nghe huấn thị đã phát biểu: Một khi anh đã lên Ban Tuyên Huấn TƯ nghe huấn thị thì anh sẽ cảm thấy tình hình Trung Quốc rối tung rối mù, rất nghiêm trọng, trái hẳn với tinh thần của Trung ương; anh sẽ biến thành kẻ đầu têu cắt xén, cản trở, phủ định, thậm chí chống lại tinh thần của Trung ương. Những người gây ra chuyện đó không phải là Đài Loan, Hồng Kông; không phải là bọn tham nhũng hay phần tử hải ngoại “vận động dân chủ” và thân nhân của những người tử nạn trong “sự kiện Thiên An Môn” mà chính là Ban Tuyên Huấn TƯ của ĐCS Trung Quốc. 

Thứ tám: Bệnh “Máu lạnh và nhược trí”
Ban Tuyên Huấn TƯ thậm chí đã chỉ trích báo chí thông tin về nỗi oan khuất của quần chúng. Phản ảnh việc nhân dân gửi đơn hoặc đi khiếu nại tố cáo thì sao có thể coi là gây mất ổn định xã hội cơ chứ? Không phản ảnh, để tích tụ lâu ngày mới là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội. Hàng ngày, phải đối mặt với những nỗi oan chồng chất của nhân dân, họ không những không động lòng mà còn trách báo chí phản ảnh thái quá thì quả là hạng người có trái tim đá và dòng máu lạnh! So với 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, những người đi khiếu nại tố cáo chỉ là thiểu số thì làm sao có thể gây mất ổn định xã hội kia chứ? Huống hồ, 80-90% trong số đó đều là những người hiền lành, chứ những kẻ cơ hội quá khích thì căn bản không làm như vậy. Những lời chỉ trích của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ chẳng bao giờ giải quyết được tận gốc nạn khiếu kiện. 
Thứ chín: Chỗ dựa cho kẻ bạo tàn, hư hỏng

Năm ngoái, giới báo chí đều nhận được 25 điều chỉ thị “không được đăng báo” do Ban Tuyên Huấn TƯ “phùng mang trợn mắt” phun ra. Trong đó có “không được đăng” vụ Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy Vân Nam bị “song quy” (theo chỉ thị của Trung ương, những cán bộ “có vấn đề” đều phải được làm rõ trong một thời hạn và tại một địa điểm quy định). Tại sao không được đăng báo? Điều “không được đăng” này làm cho báo giới cả nước lấy làm tiếc, còn kẻ hư hỏng thở phào nhẹ nhõm. Đúng là “Hoà thượng che ô, vô pháp vô thiên!” Thử hỏi tất cả những người coi trọng chính nghĩa rằng như vậy có chịu nổi không? 

Thứ mười: “Ăn quả quên người trồng cây”

Báo giới được Ban Tuyên Huấn TƯ quản lý chặt như bó giò, cứ tưởng họ sẽ bảo vệ mình nhưng không ít nhà báo bị trù dập mà không thấy họ nâng đỡ hoặc lên tiếng. Họ có vô số biện pháp để quản lý, uốn nắn nhà báo nhưng khi nhà báo bị hàm oan, muốn được họ giúp đỡ, minh oan thì họ rụt đầu lại chẳng khác gì một con rùa! 

Thứ mười một: Ra vẻ quý tộc nhưng là nô lệ của đồng tiền.
Họ luôn tùy tiện ngăn cản báo chí thực hiện chức năng giám sát bằng dư luận bởi một tiếng “ngừng” với một lý do đàng hoàng là “tránh gây mất ổn định xã hội”. Nhưng trong nhiều trường hợp, đó là cuộc trao đổi giữa quyền và tiền, là dùng quyền lực để thu “tô”, là được kẻ xấu nhờ vả. Họ mượn quyền quản lý báo chí được Đảng và Nhà nước giao phó nhằm làm giảm bớt tai họa để trục lợi cá nhân. Như vậy, mỗi lần ngăn cản báo chí đưa tin là một lần họ dung túng cho một hoặc nhiều kẻ xấu, một lần duy trì tai họa. Họ bán rẻ hình tượng của Đảng và Nhà nước để đổi lấy những lợi ích phi pháp. 
Thứ mười hai: Kẻ thù ghét những người tài đức, ai tỏ ra vượt trội thì “diệt”, ai ủng hộ chính nghĩa thì “chôn sống”
Hiện nay ở Trung Quốc không có loại sách bán chạy, nếu có cuốn nào bán chạy thì lập tức bị Ban Tuyên Huấn TƯ “đốt” ngay. Họ luôn có lý do đàng hoàng mà lòng dạ thì vô cùng đen tối. Cấm một cuốn sách hay, bán chạy là bóp ngẹt sức sáng tạo của dân tộc Trung Hoa. “Bịt miệng” được một nhà báo, một học giả hay một tờ báo tâm huyết với chính nghĩa là làm nhụt chí khí của xã hội Trung Quốc. Sở dĩ hiện tại ở Trung Quốc tinh thần sáng tạo cạn kiệt, đạo đức suy đồi, chính nghĩa co cụm, ác bá hoành hành, chính khí lụn bại… thì 99% là trách nhiệm của Ban Tuyên Huấn TƯ. 
Thứ mười ba: Nhân vật thứ 2 tạo ra hiểm họa khiến quần thể suy yếu

Tại sao người lao động bị nợ lương triền miên mà chỉ có Thủ tướng Ôn Gia Bảo ra tay thì mới được giải quyết? Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán báo chí thông tin, việc nợ lương không lọt vào tầm mắt quốc dân thì giải quyết sao được? Tại sao việc dân khiếu kiện kéo dài hàng chục năm không dứt? Tại Ban Tuyên Huấn TƯ che đậy tội ác. Những điều bất cập trong công tác kế hoạch hoá dân số vẫn tiếp tục tái diễn do báo chí không được phép thông tin. Kẻ xấu không sợ quan chức mà chỉ sợ đạo đức chính trị và đạo đức xã hội. Báo chí Trung Quốc vốn có thể làm một vạn điều tốt cho dân, hạn chế đều là tai họa; chỉ tại Ban Tuyên Huấn TƯ ngu muội, lạc hậu trong phương thức tư duy và bá đạo, võ đoán trong cách làm việc nên đã cấm đoán hết 9999 điều. 

 Thứ mười bốn: Ban Tuyên Huấn TƯ biến Tổng biên tập các cơ quan báo chí thành những người vô cảm, phi chính nghĩa và thiếu văn hoá 
Mỗi lần nghe họ giáo huấn xong, người ta thấy mình như vừa thoát nạn, bởi dường như họ đang lội ngược dòng thời đại. Nhìn bề ngoài, các Tổng biên tập thấy mình vẫn còn nguyên vẹn nhưng nội tâm đã bị tổn thương rất nhiều. Những lời giáo huấn của các Tổng biên tập đã làm tổn thương hoàn toàn khả năng chống vô cảm, sự đồng cảm với chính nghĩa và văn minh của họ. Gây ra sự vô cảm là tai họa lớn nhất thế giới; chà đạp lên sự đồng cảm với chính nghĩa là sự chà đạp tàn bạo nhất thế giới. 
THƯỢNG SÁCH VÀ HẠ SÁCH CỨU VỚT Ban Tuyên Huấn TƯ 
Thượng sách là triệt tiêu Ban Tuyên huấn các cấp. Nước Mỹ có Ban Tuyên huấn không? Nước Anh có không? Châu Âu có không? – Tất cả đều không có. Vậy ai có Ban Tuyên huấn? Đức Quốc Xã có và đã từng xuất hiện một vị Trưởng ban lừng danh là Tiến sĩ Goebbels với câu nói bất hủ của ngài: “Lặp lại một ngàn lần nói dối sẽ biến thành lời nói thật!”. Trong thời kỳ Tưởng GiớI Thạch thống trị Trung Quốc cũng có Ban Tuyên huấn. Trọng tâm tuyên truyền của thời kỳ đó chỉ gói gọn trong câu: “Cộng sản nghĩa là dùng chung tài sản và vợ”. Chúng còn gọi đội quân của Mao-Chu (Ân Lai) là “Cộng phỉ”. Về bản chất, Ban Tuyên Huấn TƯ luôn chống lại lý luận duy vật cuả chủ nghĩa Mác. Phương châm hành động của họ là “Việc tốt tự nó phát sinh; việc xấu tự nó mất đi; việc tốt, bé sẽ thành lớn; việc xấu, lớn sẽ hóa bé…” Họ lẫn lộn trắng đen, chẳng hiểu khách quan là gì và luôn đi ngược lại tinh thần thực sự cầu thị. Nếu không nhận thức được bản chất công việc của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ là tội ác, là tai họa, là biểu hiện của Đảng và Chính phủ đang tự xa rời dân chúng. Nếu chính phủ Trung Quốc thấy hình ảnh của mình không mấy đẹp đẽ trên chính trường thế giới thì trước hết hãy hỏi tội Ban Tuyên Huấn TƯ. Tính chất và phương thức làm việc của họ đều không hội nhập được với nền văn minh hiện đại.
Hạ sách là phải soạn thảo một “Bộ luật về công tác Tuyên huấn” để họ cứ theo đó mà làm, khỏi phải vận dụng phép thuật phù thủy. Cũng có thể cho phép họ làm việc theo mô thức công tác hiện hành, nhưng phải có quy chế giám sát chặt chẽ để họ không làm việc máy móc như Giáo hội La Mã.
4 biện pháp cụ thể
Biện pháp I: Thiết lập một hạng mục chuyên nghiên cứu học thuật để tính công-tội cho Ban Tuyên Huấn TƯ 
Thử xem trong giai đoạn lịch sử vừa qua, hệ thống tuyên huấn trong cả nước đã làm được những gì, những vị Trưởng ban nào là công thần của dân tộc Trung Hoa, những vị nào là tội phạm; công thần thì đưa lên bàn thờ, tội phạm thì cho xuống địa ngục. Có thể gạt bàn tính để tính ngược từ vị Trưởng ban đương nhiệm là Lưu Vân Sơn và Cát Bỉnh Cán rồi Đinh Quang Căn, Vương Nhẫn Chi, Từ Duy Thành… 
Biện pháp II: Yêu cầu Ban Tuyên Huấn TƯ lập sổ nhật ký công tác
Ban Tuyên Huấn TƯ nhất thiết phải có sổ nhật ký để ghi rõ toàn bộ công việc hàng ngày. Hôm nay đã ra lệnh phong toả nào, ngày mai sẽ tung “con chủ bài” nào, tất cả đều phải ghi cụ thể vào sổ để giám sát và sau này còn đối chiếu, truy cứu trách nhiệm, để lịch sử phán xét có công hay có tội, nên thưởng hay nên phạt. Hiện đang có một tình trạng khá phổ biến là để khỏi phải chịu trách nhiệm, khỏi bị lịch sử phán xét, người ta thường ra “lệnh cấm” bằng điện thoại. Cần phải kiên quyết ngăn cái trò quỷ không lưu lại bút tích này. Đứng trước một việc xấu, báo chí chuẩn bị đưa ra ánh sáng thì Ban Tuyên Huấn TƯ liền gào lên trong điện thoại: “Phải cứu người, không được đăng báo!”. Các nhà nghiên cứu phải hết sức quan tâm tới việc này, ngoài những lý do đàng hoàng “cần phải giữ ổn định” ra thì để ý quan sát kỹ xem có “sự trao đổi quyền – tiền” không?
Phải truy vấn xem tại sao anh ta lại hăng hái bao che cho người xấu? Văn hào Lỗ Tấn đã từng nói: “Tôi không bao giờ đem những ác ý tồi tệ đổ lên đầu người Trung Quốc cả”. Nhưng chúng ta có lý do để làm điều này đối với Ban Tuyên Huấn TƯ bởi những cú điện thoại bảo dừng của họ. Mỗi cú điện thoại ấy, họ nhận được bao nhiêu tiền của kẻ xấu? “Thành thật thì khoan hồng, kháng cự thì nghiêm trị”, thực tiễn đã dạy, chúng ta cần ghi nhớ! 
Biện pháp III: Xây dựng chế độ truy phạt những việc làm sai của Ban Tuyên Huấn TƯ 
Đã có chế độ truy cứu trách nhiệm đối với những công trình xây dựng bị “rút ruột”, thì những việc làm sai của Ban Tuyên Huấn TƯ còn tai hại hơn nhiều; do đó cũng cần phải áp dụng chế độ truy cứu trách nhiệm. Nói cách khác, công trình siêu cấp về hình thái ý thức mà bị “rút ruột” thì hậu quả khủng khiếp biết chừng nào, vì vậy, không thể cho qua. Từ trước đến nay, Ban Tuyên Huấn TƯ đã phát động biết bao chương trình hành động phản cái này, chống cái nọ. Bây giờ nhìn lại thấy tức cười, rõ là trò ma! Vậy mà chẳng thấy ai dám đứng lên chịu trách nhiệm về những trò ma ấy cả. 

Biện pháp IV: Công khai hoá hoạt động của Ban Tuyên Huấn TƯ 
Việc này khiến báo chí có thể đăng kịp thời những chỉ thị của Ban “yêu cầu không được đăng báo”, hoặc phát chúng lên mạng. Ban Tuyên Huấn TƯ cũng nên có nghĩa vụ pháp định như thế để nhân dân cả nước có thể đánh giá lệnh nào của Ban là chính xác, là công đức; lệnh nào là tội ác, là phản văn minh, là hại dân hại nước. Các Tổng biên tập báo chí sau khi nghe những lời răn dạy của Ban Tuyên Huấn TƯ, nếu thấy có những điểm nào trái với kiến thức thông thường của xã hội văn minh, thì hãy tự giác đưa nó lên mạng. Ác quỷ luôn sợ ánh sáng. Các vị sợ gì mà không phơi bày tính kiêu ngạo lộng hành, luôn cho mình là đúng của Ban Tuyên Huấn TƯ. Các vị cứ việc nói những điều mà sau khi nghe họ giáo huấn các vị cảm thấy chưa thoả đáng, không chính xác, thậm chí là phản động, dù đó là “vấn đề bí mật, cấm không được nói”. 

Theo một số Tổng biên tập kể lại, về cơ bản thì những lời răn dạy của Ban Tuyên Huấn TƯ thường không theo lý tính, không phù hợp với thường thức văn minh, cũng không liên quan gì đến trách nhiệm của báo chí; thậm chí, cũng có trường hợp gần như lưu manh, vô lại, theo giọng điệu của anh hàng thịt; nó thể hiện tính hách dịch, bá quyền. 
Hệ thống báo chí Trung Quốc lớn đến thế mà cống hiến chẳng được bao nhiêu cho dân mình. Nguồn gốc của tai họa ấy thuộc về ngành Tuyên huấn. Họ đã làm suy giảm chức năng giám sát của báo chí, vì chức quyền mà quay ngược bánh xe lịch sử. 
Hãy đánh bật gốc rễ cực tả
Những năm qua trên báo chí thường có câu: “Với lý do như mọi người đã biết, tin này bị cắt bỏ”. Thế nào là “lý do như mọi người đã biết”?
– Đó là sự can thiệp của Ban Tuyên Huấn TƯ. Vì “lý do như mọi người đã biết” mà tin không được đăng báo, trên thực tế mặc dù đó là hoang đường, ngu muội, thậm chí là phản động, nhưng buộc phải nghe theo. Điều này chứng tỏ Ban Tuyên Huấn TƯ có đặc quyền đổi trắng thay đen, cưỡng bức thông tin, biến hươu thành ngựa, bất chấp đạo lý, chà đạp văn minh. Cái hoang đường như mọi người đều biết ấy có quyền lực rất lớn, thần thánh cũng không thể xâm phạm, không thể đảo ngược; hàng chục vạn nhà báo, hàng trăm vạn trí thức, chẳng ai dám ra mặt phản đối, dù chỉ nửa lời. Quả là điều sỉ nhục về nhân cách đạo đức của người Trung Quốc. 
Ban Tuyên Huấn TƯ tại sao lại ngược ngạo đến thế? Đó là di sản lịch sử mà lịch sử cực tả đã giao cho họ. Từ thời Vương Minh, Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều đến nay, Ban Tuyên Huấn TƯ luôn được hưởng quyền miễn trách cứ về đạo đức và chính trị. Họ chẳng phải chịu trách nhiệm gì cả, chẳng phải chịu phản tỉnh, chẳng việc gì phải sám hối, cũng chẳng tự vấn lương tâm. Đường lối chính trị thay đổi, nhân sự thay đổi, nhưng Ban Tuyên Huấn TƯ là một bộ máy “hồng và độc ác” thì vẫn được giữ nguyên. Xưa nay nó chưa hề được “thanh toán”, vai trò của nó luôn bất biến, phương thức tư duy và phương thức làm việc chưa ai đụng đến, tính cực tả và loạn nghịch của nó vẫn còn nguyên. Cần phải thanh toán mọi tội lỗi của Ban Tuyên Huấn TƯ trong các thời kỳ lịch sử như đã thanh toán Vương Minh, Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều! Cần phải hiểu rằng Trung Quốc là của mỗi người dân Trung Quốc, là mảnh đất sống của con cháu muôn đời, ai cũng có quyền sổng tự do, diễn đạt tự do, ăn nói tự do.
14  LÝ DO THẢO PHẠT

Lý do thứ nhất: 
Chủ tịch Mao đã nói: “Tất cả bọn phản động đều là hổ giấy. Thoạt nhìn thì chúng rất đáng sợ nhưng trên thực tế thì chẳng có gì ghê gớm. Về lâu dài có thể thấy sức mạnh thật sự không thuộc về bọn phản động, mà thuộc về nhân dân”. Báo chí cũng đã có lần gọi Ban Tuyên Huấn TƯ là “phái phản động” rồi. Họ phản động ra sao thì ai cũng biết; họ phản động một cách trắng trợn, lộ liễu, không cần phải giấu diếm.
Lý do thứ hai: Đó là quyền lợi Hiến pháp của chúng ta. Nước cộng hoà không cần có hổ, Nước cộng hoà không cần có thánh vật, nước cộng hoà cũng không cần có thánh nhân như Hồng y giáo chủ. 
Lý do thứ ba: Tôi văn minh, cao thượng hơn Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xô đẩy Đảng và Chính phủ vào chỗ bất nghĩa. Mỗi chỉ thị “không được” do họ đưa ra đều là kết tinh của sự ngu muội, đều trái với sự nghiệp của Đảng và Chính phủ. 
Lý do thứ tư: Tôi không thể chịu nổi việc họ chà đạp lên những thường thức văn minh nhân loại. Họ không cho phép báo chí dùng từ “công dân” mà phải dùng từ “bà con”; không muốn các từ “tự do dân chủ” xuất hiện nhiều trên mặt báo; trong Hiến pháp có thể dùng, trong Báo cáo chính trị của Đại hội XVI (ĐCS Trung Quốc) có thể dùng, còn những người bình thường thì chớ. Điều này chứng tỏ những từ “tự do dân chủ” chỉ được dùng để trang trí. Vấn đề đó có ý nghĩa gì? – Đó là kẻ thù của nhân loại, kẻ thù của văn minh, kẻ thù của dân chủ và kẻ thù của tự do! Đó là “mâu thuẫn giữa địch và ta”. Ban Tuyên Huấn TƯ không phải là người quán triệt tư tưởng “Ba đại diện”, mà là đại biểu cho sự ngu muội, lạc hậu, đại biểu cho khuynh hướng văn hoá tù đọng, trầm luân của loài người. 
Lý do thứ năm:
Tôi có cái đức ham sống. Tôi không chịu nổi khi nhìn thấy bộ máy Ban Tuyên Huấn TƯ tự hủy diệt mình, càng không chịu nổi việc phải nghe lời các vị để tiếp tục hủy diệt những tinh hoa của đất nước. 

Lý do thứ sáu: Trưởng các Ban Ngành khác cùng với đơn vị mình có thể trở thành đối tượng “mổ xẻ” của báo chí. Công việc của Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ có thể bị “phê phán”, vậy dựa vào đâu mà Ban Tuyên Huấn TƯ không bị “chất vấn nọ kia”? Các ngành tư pháp, công an, đường sắt, lao động và bảo hiểm xã hội… cùng các vị Bộ trưởng đều đã từng bị báo chí chất vấn, trách cứ. Nhất là ngành đường sắt, năm nào cũng bị bàn dân thiên hạ la ó, bủa vây như phường săn vây sói. 
Lý do thứ bảy: Phó Ban Tuyên Huấn TƯ là ông Cát Bỉnh Cán, người Hà Nam. Cuối năm 2003, ông này liên tục phát ra 23 chỉ thị “không được”… Người Hà Nam mà nắm hình thái ý thức khiến nhân dân không an tâm. Xưa nay Hà Nam là tỉnh bị thiên tai nhiều nhất Trung Quốc. Sở dĩ Hà Nam bị nhiều thiên tai căn bản là do các quan chức địa phương quá nhạy cảm với hình thái ý thức. Chúng ta không thể để cho môi trường dư luận cả nước bị “Hà Nam hoá”. 
Lý do thứ tám: Đây là một cảm nhận văn chương của tôi. Lương Khải-siêu đã phát triển đời sống văn hoá đến đỉnh điểm; Hồ Thích phát triển Bạch thoại đến tầm cao; Từ Chí Quyền phát triển Thơ mới đến thượng tầng; Lỗ Tấn đưa Tạp văn lên chót vót. Lý Ngao, Bá Dương, Vương Nê, Khổng tử, Mạnh tử, Tào Tuyết Cần… Đường-Tống bát đại gia đều đã quy tiên, nhưng những đỉnh cao của họ đều là những cống hiến lớn lao cho ngữ văn Hán và dân tộc Hán. Tôi cũng muốn đem cảm nhận văn chương của mình về những thứ không phải là vùng cấm mà bị lãng quên ấy lên đỉnh cao hơn để khắc họa thêm một vài đường nét về sự phát triển của ngữ văn Hán và dân tộc Hán. “Thư sinh báo quốc vô trường vật, Duy hữu thủ trung bút như đao [1] ”. 
Lý do thứ chín: Sự cổ vũ của các bậc tiền bối. 360 năm trước, ông John Milton có tác phẩm “Bàn về quyền tự do xuất bản”; 150 năm trước, K. Marx có tác phẩm “Nhận xét về lệnh kiểm duyệt sách báo của nước Phổ”; 1.500 năm trước, Robin Hood có “Hịch dấy binh”… tất cả, lời lẽ đều ngắn gọn nhưng đanh thép. Lương Khải Siêu đã từng chửi vọng Viên Thế Khải về cái gọi là Quốc thể; các nhà lãnh đạo phong trào “Ngũ Tứ” thì kêu gọi “đánh đổ Khổng gia điếm!”; Trương Lý Loan thì khái quát về “nhân sinh quan của Tưởng Giới Thạch”, còn Quách Mạt Nhược lại kêu gọi “hãy thử nhận xét Tưởng Giới Thạch trong hiện tại”; Chuyên Tư Niên có bài “Tống Tử Văn coi bộ không ra đi không ổn”,… Việc đánh đổ “Hoàng thân quốc thích” sách thời nào cũng có, tôi chỉ muốn nói thêm một câu là “Cát Bỉnh Căn không ra đi không ổn” hoặc gào lên một tiếng là hãy “thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ”. So với các bậc tiền bối thì điều đó có kém chi? Nhưng trên thực tế chỉ là chuyện nhỏ. Hơn nữa, báo chí nước ngoài đang suốt ngày la hét: “Tổng thống không xứng đáng, mau cút về vườn đi!” hoặc “Bộ trưởng tệ quá, hãy xéo cho khuất mắt!” Tôi không tin rằng nhân dân Trung Quốc cũng hô to “thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ” vì như thế là nghịch đạo, đáng tội chết. Người lính không muốn trở thành tướng là người lính tồi; người trí thức không muốn trở thành John Milton không phải là người trí thức giỏi. Tôi muốn bài “Thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ” nảy trở thành văn kiện lịch sử trong sử sách Bưu Bỉnh giống như “Bàn về quyền tự do xuất bản”, “Nhận xét về lệnh kiểm duyệt sách báo của nước Phổ”… 
Lý do thứ mười: Ao ước để phúc cho con cháu. Cứu Ban Tuyên Huấn TƯ là khởi nguồn Tự do, hạnh phúc cho đời sau. “Cộng sản”, “Dân chủ” phải chăng đã trở thành sự bưng bít, tai họa nặng nề? Chừng nào mới kết thúc? 
Lý do thứ mười một: Người sơ trở thành thân. Anh làm báo chí, tôi nghiên cứu công tác báo chí, công việc của anh là đối tượng nghiên cứu của tôi. Chúng ta vốn cùng một nhà, cùng chịu trách nhiệm trước sự hưng thịnh của một “ông chủ” – đó là dân tộc Trung Hoa. vậy chúng ta hãy cùng chung một chí hướng, coi Tổ quốc là cha mẹ, đồng bào là anh em! 
Lý do thứ mười hai: Căn cứ vào sinh thái học. Bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ đứng phía sau, tiếp theo là ruồi nhặng. Quyền lực sinh ra tiêu cực, quyền lực tuyệt đối sinh ra tiêu cực tuyệt đối. Ban Tuyên Huấn TƯ đang có thứ tiêu cực đó nhưng tại sao không bị giám sát? Ai dám bảo đảm họ không tiêu cực? Sinh thái học thường thức không thể nào giải thích nổi điều này. 
Lý do thứ mười ba: Ai rồi cũng phải chết, vậy mà tôi không muốn sống. Tôi muốn thay đổi Hiến pháp, Luật Hình và các bộ luật khác của nước CHND Trung Hoa, muốn thảo phạt cả Ban Tuyên Huấn TƯ, điều đó chưa đáng là tội chết. Là “tội sống” thì chẳng có gì đáng sợ, chỉ phải ngồi tù thôi, phải không? Ngồi tù thì khác với kiểu “đãi ngộ Tân thành”. “Ngồi Tân thành” là gửi thân xác vào ngân hàng, có lãi và không bị mất giá. Bây giờ trong số những nhân vật cũ có tên tuổi, ai mà đã không từng “ngồi Tân thành”?… Thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ thúc đẩy văn minh xã hội đương đại của Trung Quốc là công lao vô cùng to lớn, xứng mặt anh hùng, cũng giống như các bậc tiền bối đã nêu trên, đáng được lưu danh sử sách. 
Lý do thứ mười bốn
: Tôi rất nhạy cảm với nỗi khổ, nhưng lại khá thờ ơ với lẽ phải. Hai việc khiếu kiện với nợ lương, ai bảo điều đó gây mất ổn định xã hội, báo chí không được phản ánh, thì tôi rất ghét. Hôm Tết tôi nằm mơ đi chơi Di Hoà Viên, thấy có người chết đuối, để lại đôi giày, hoá ra đó là đôi giày của tôi. Tôi đã nhảy xuống hồ Côn Minh tự vẫn.
Trong đôi giày của tôi có bức thư gửi chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Đại ý như sau: Tại sao các vị không ra lệnh giải quyết tình trạng nợ lương công nhân? Tại sao các vị không gồng mình lên giải quyết vấn đề khiếu kiện? Hôm nay tôi sẽ chết cho các vị xem! Năm tới mà còn nợ lương với khiếu kiện thì ở dưới âm phủ tôi vẫn không nguôi giận các vị đâu! Xem kìa, tôi đang “thử chết” trong giấc mơ để phản đối chính phủ thờ ơ với tình trạng khiếu kiện và nợ lương! 
Xem thêm về Tiêu Quốc Tiêu (Jiao Guobiao) và bài “Thảo phạt…”
http://www.zonaeuropa.com/01814.htm

Quan hệ Việt-Trung:Chủ quyền biển Đông: Ta phải tự quyết định số phận mình (kỳ 3)

"Vấn đề Biển Đông là phức tạp. Nhưng khi trí thức hai nước cùng có nhận định cần gìn giữ hòa bình khu vực và cần có quan hệ hữu nghị giữa hai nước họ sẽ cùng nỗ lực làm cho vấn đề không phức tạp hơn".


GS. Trần Văn Thọ: Trước cuộc đối thoại, chúng tôi có đề nghị cả hai bên Việt và Trung chuẩn bị bản báo cáo về đề tài này nhưng cuối cùng chỉ có phía VN có bản báo cáo của giáo sư Nguyễn Quang Ngọc (Đại học Quốc gia Hà Nội). Tuy nhiên trong ngày hội thảo, phía TQ đã tham gia thảo luận sôi nổi.
Nhà báo Thu Hà: Vâng. Giáo sư Ngọc là người có nhiều bài viết, nghiên cứu chuyên sâu về chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông.
GS. Trần Văn Thọ: Theo tôi, nội dung bản báo cáo của giáo sư Ngọc rất có sức thuyết phục và có nhiều điểm mới lạ đối với tôi. Ngoài bản tóm tắt 3 trang theo yêu cầu của ban tổ chức, tác giả còn chuẩn bị một bài viết dài, kèm theo nhiều bản đồ, chụp lại từ các tư liệu trong nghiên cứu của các học giả phương Tây. Tôi đặc biệt chú ý mấy điểm sau:
Thứ nhất, người phương Tây đã xác định Hoàng Sa là của Chiêm Thành. Nhiều bản đồ hàng hải phương Tây đánh dấu ở khu vực quần đảo Hoàng Sa cái tên rất có ý nghĩa là Baxos de Chapar (bãi đá ngầm Chămpa) và Pulo Capaa (đảo của Chămpa). Nhiều bản đồ phương Tây cuối thể kỷ 16 đã vẽ rõ và chính xác các quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và khu vực duyên hải miền Trung tương đương với tỉnh Quảng Ngãi sau này là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng Sa).
Thứ hai, địa giới Đại Việt đến trước thời điểm quân Minh xâm lăng đã được mở rộng đến Quảng Ngãi. Năm 1490 Lê Thánh Tôn cho hoàn thành bản đồ toàn quốc trong đó cho đánh dấu vị tri của Bãi Cát Vàng. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) đẩy mạnh giao thương quốc tế, phát triển thương cảng Hội An, mở rộng lãnh thổ xuống miền Đông Nam bộ, đặt ra đội Hoàng Sa khai thác và quản lý khu vực Bãi Cát Vàng và một phần Bãi Cát Dài ở phía Nam. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) đặt ra đội Bắc Hải (dưới sự kiểm quản của Đội Hoàng Sa) có trách nhiệm khai thác hóa vật, kiểm tra, kiểm soát thục thi chủ quyền.

Thứ ba, năm 1803 Gia Long lập đội Hoàng Sa có chức năng khai thác và quản lý đảo nầy. Liên tục trong các năm 1815 và 1816, vua sai đội nầy ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển. Hoạt động của vua Gia Long được nhiều người phương Tây chứng kiến và đề cao. Chẳng hạn, trong hồi ký của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) nói là đến năm 1816 nhà vua đã chiếm được hòn đảo này. Giám mục Jean Louis Taberd thì cho rằng người Đàng Trong gọi khu vực Paracels là Cồn Vàng, khẳng định Paracels thuộc An Nam.
Nhà báo Thu Hà: Và trí thức phía Trung Quốc đã phản ứng như thế nào?
GS. Trần Văn Thọ: Giáo sư Yang Daqing (Dương Đại Khánh), người đang dạy học ở Mỹ nói rằng, các sách báo của Trung Quốc mà ông đã đọc được lại nói ngược lại, rằng tư liệu của TQ và của các học giả phương Tây chứng minh rằng Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) là của TQ. Tuy nhiên ông không đi vào chi tiết cụ thể mà chủ trương rằng, cùng tham khảo các nguồn tư liệu giống nhau nhưng VN và TQ lại rút ra các kết luận trái ngược nhau. Đây là điểm các nhà nghiên cứu hai nước nên cùng hợp tác nghiên cứu để xem chân lý nằm ở đâu.
Còn giáo sư Yu Xiangdong (Vu Hướng Đông), Viện trưởng Viện nghiên cứu Việt Nam tại Đại học Trịnh Châu (Hà Nam), thì cho rằng TQ có đầy đủ tư liệu chứng minh Tây Sa và Nam Sa là của TQ (thực ra là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam - pv), rằng những tư liệu mà giáo sư Ngọc đưa ra chỉ liên quan đến những đảo nhỏ nằm gần bờ biển VN.
Nhà báo Thu Hà: Giáo sư Ngọc của Việt Nam đã trả lời họ ra sao ạ?
GS. Trần Văn Thọ: GS Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, trước những chứng cứ không thể phủ nhận về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Hàn Chấn Hoa, Đới Khả Lai, Lý Quốc Cường, Vu Hướng Đông... đã tìm cách chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa chỉ là các đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam.
Tiêu biểu nhất và gần đây nhất là Giáo sư Vu Hướng Đông trong luận án Tiến sĩ mới bảo vệ tại Đại học Hạ Môn năm 2008 đã đưa ra lập luận rằng vì Đội Hoàng Sa (do Gia Long lập) dùng người ở đảo Lý Sơn (tức là Cù Lao Ré, cách cửa biển Sa Kỳ khoảng 20 km, nay là huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) cho nên có thể suy ra Lý Sơn chính là đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, họ cho rằng Trường Sa chỉ là các dải cát mang tên Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa trong đất liền thuộc bờ biển tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay. Với các chủ trương đó, họ cho rằng họ công nhận VN có chủ quyền nhưng chủ quyền của VN chỉ là các đảo ven bờ, còn các đảo ở giữa Biển Đông (mà họ gọi là Tây Sa, Nam Sa) hoàn toàn không phải là Hoàng Sa, Trường Sa (như tài liệu của VN) và Pracels, Sprattly (như tài liệu của phương Tây).
Nói khác đi, họ chủ trương là các đảo ở Tây Sa và Nam Sa là chủ quyền của họ, không liên quan gì đến Hoàng Sa, Trường Sa hay Paracels, Spratly cả. Tuy nhiên, theo giáo sư Ngọc, tất cả các nguồn tư liệu thư tịch và bản đồ cổ của Việt Nam, phương Tây và của cả Trung Quốc đều phân biệt một cách rạch ròi Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa Biển Đông với các đảo ven bờ VN. Đây là điều ai cũng có thể nhận ra nếu thực sự muốn nghiên cứu nghiêm túc.
Sau đó, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc có nói thêm là khi Pháp chuyển giao cho Bảo Đại toàn bộ Nam kỳ có bao gồm cả Hoàng Sa và tại Hội nghị San Francisco (1951), thủ tướng Trần Văn Hữu của chính quyền Bảo Đại có tuyên bố chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và không có ai phản đối.
Nhà báo Thu Hà: Là người khởi xướng đối thoại trí thức thức Việt - Trung và cũng là người chủ trì hai cuộc đối thoại vừa rồi, chúng tôi xin được biết quan điểm của giáo sư về những vấn đề đang còn tranh cãi giữa học giả hai nước?
GS. Trần Văn Thọ: Với tư cách là người trong ban chủ tọa và vì thì giờ rất ít cần ưu tiên cho các vị đến từ VN và TQ, tôi chỉ phát biểu lúc khai mạc và lúc tổng kết, nhưng về vấn đề Biển Đông tôi thấy có một điểm quan trọng mà hai bên không ai nói tới nên mới chen vào hỏi một câu về quần đảo Hoàng Sa (của VN). Đó là sự kiện TQ dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 từ VN Cộng hòa.
Câu hỏi của tôi đặt ra chủ yếu cho giáo sư Vu Hướng Đông, đó là cho đến thời điểm đó, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN Cộng hòa. Nếu TQ chủ trương Hoàng Sa là của họ, vậy trước năm 1974 vì bối cảnh nào, và vào năm nào, chủ quyền Hoàng Sa lại chuyển từ TQ sang VN Cộng hòa? Nhưng giáo sư Vu Hướng Đông không trả lời trực tiếp câu hỏi nầy, chỉ nói lại ý kiến đã phát biểu rằng năm 1974 TQ có hành động quân sự là để thu hồi lại chủ quyền vốn có của mình và nói thêm là "Từ xưa đến nay nhiều tài liệu lịch sử cũng như nghiên cứu của các học giả TQ như Hàn Chấn Hoa và Đới Khả Lai đã chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa".
Sau hội thảo tôi có viết thư cho giáo sư Vu Hướng Đông nhắc lại câu hỏi nói trên và đề nghị ông trả lời bổ túc vì nghĩ rằng ở hội thảo thì giờ có ít, trả lời chưa đủ. Ông có phản hồi nhưng rất tiếc hoàn toàn không có sức thuyết phục. Ông bảo "năm 1946 TQ đã cử tư lệnh hải quân đến chiếm lại Hoàng Sa, nhưng trong thập niên 1950s, chính phủ miền nam VN với sự yểm trợ của Mỹ đã xâm phạm quần đảo này". Tôi lại  hỏi tiếp, vậy trước năm 1946 do bối cảnh nào mà Hoàng Sa chuyển chủ quyền từ TQ sang VN, và năm cụ thể nào trong thập niên 1950 Mỹ đã giúp chính quyền Sài Gòn chiếm Hoàng Sa của TQ. Nhưng tiếc là giáo sư Vu Hướng Đông không trả lời thêm nữa.
Trong hội thảo, phía VN có đề nghị bên TQ có bài báo cáo chi tiết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như bản báo cáo của giáo sư Nguyễn Quang Ngọc.
Nhà báo Thu Hà: Rõ ràng, giữa trí thức hai nước vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Ông có nghĩ rằng, những trí thức tham gia đối thoại sẽ thoải mái chia sẻ quan điểm, góc nhìn với nhau không?
GS. Trần Văn Thọ: Từ kết quả hai hội nghị đối thoại trí thức Việt Trung, kể cả sự cảm nhận về những vấn đề nổi lên trong quá trình chuẩn bị, tôi có mấy nhận xét và suy nghĩ như sau:
Bảy giáo sư TQ tham gia đối thoại dĩ nhiên không thể nói là đại biểu cho suy nghĩ chung của trí thức TQ nhưng có lẽ cũng không ít người có cùng quan điểm như họ. So với suy nghĩ, nhận định của trí thức VN, rõ ràng có nhiều điểm khác nhau. Nhưng tùy vấn đề, qua đối thoại và nỗ lực tìm hiểu, quan điểm hai bên có thể xích lại gần hơn. Quan hệ Việt - Trung trong thời phong kiến nhìn chung nhận định hai bên không khác lắm. Quan hệ hai nước trong giai đoạn 1950-1972 là điểm có nhiều tranh cãi nhưng cùng với độ lùi của thời gian và với nhiều tư liệu được công khai, khoảng cách về nhận thức sẽ thu hẹp.
Về giai đoạn từ giữa thập niên 1970 đến hết thập niên 1980 mà đỉnh điểm là chiến tranh biên giới năm 1979, cả lãnh đạo hai nước đều không muốn nhắc đến với lý do là "muốn cùng khép lại quá khứ để hướng tới tương lai". Trong giới trí thức TQ có lẽ có nhiều nhận định khác nhau. Một số suy nghĩ giống ý kiến chính thống của nhà nước TQ, nhất là của giới cầm quyền thời đó. Nhưng cũng có người khách quan hơn. Năm 2005 trong một hội nghị ở Indonesia tôi gặp một giáo sư kinh tế nổi tiếng thuộc Viện khoa học xã hội của TQ. Trong khi trò chuyện lúc giải lao, tự nhiên ông ta nhắc đến chiến tranh 1979 và nói "trong sự kiện đáng tiếc đó, cả TQ và VN đều có sai lầm". Theo tôi, những trí thức chân chính của TQ không ai cho đó là "phản kích tự vệ" như nhiều người quá khích của TQ chủ trương. Về vấn đề này ta cũng có thể hy vọng rằng cùng với độ lùi của thời gian và với nhiều tư liệu được công khai, trí thức hai nước sẽ có quan điểm không khác nhau nhiều.
Vấn đề Biển Đông là phức tạp nhất. Theo tôi, nhiều trí thức TQ không nghĩ là chủ trương của nhà nước họ là có sức thuyết phục (ý kiến bảo vệ chủ trương của TQ mạnh mẽ như giáo sư Vu Hướng Đông tại hội nghị có lẽ không nhiều), nhưng họ không dám công khai nói ngược lại với chủ trương đó. Do đó, tôi không hy vọng các cuộc đối thoại trí thức Việt Trung sẽ góp phần giải quyết vấn đề biển Đông.
Tuy nhiên khi trí thức hai nước cùng có nhận định cần gìn giữ hòa bình khu vực và cần có quan hệ hữu nghị giữa hai nước họ sẽ cùng nỗ lực làm cho vấn đề không phức tạp hơn.
Những trí thức TQ chuyên nghiên cứu về VN vì mục đích học thuật nhìn chung có thiện cảm với ta và có lẽ họ thật sự mong hai nước giữ quan hệ hữu hảo. Đa số họ có nỗ lực đào xới, làm rõ những mặt tích cực trong quan hệ Việt Trung và tìm những khả năng mới để góp phần cải thiện quan hệ hai nước. Hai giáo sư Phan Kim Nga và Lưu Chí Cường trong cuộc đối thoại lần này là những điển hình.
Tôi cũng đã từng gặp nhiều người khác nữa. Dĩ nhiên nhiều người trong nhóm này họ chưa thấy hết những phức tạp trong quan hệ hiện nay.
Về những trí thức nói chung, nghĩa là những người không chuyên nghiên cứu về VN, thì có vẻ không hoặc ít quan tâm đến quan hệ Việt - Trung. Mời những người này tham gia các hội nghị đối thoại Việt Trung rất khó. Điều này cũng dễ hiểu.
Phải cải cách để phát triển và được thế giới nể trọng
Nhà báo Thu Hà: Như GS đã nói, cuộc đối thoại trí thức Việt-Trung sẽ gợi mở một số vấn đề VN cần quan tâm trong quá trình cải thiện quan hệ với nước láng giềng phương Bắc. Từ hai cuộc đối thoại đã được thực hiện, giáo sư có gợi mở gì nhằm giúp cải thiện mối quan hệ Việt-Trung hiện nay?
GS. Trần Văn Thọ: Thứ nhất, trong lịch sử, VN được TQ tôn trọng, nể trọng thật sự khi có những người lãnh đạo tài năng, trí tuệ và có tầm nhìn. Tại hội nghị vừa qua, Quang Trung và Hồ Chí Minh được nói tới như những trường hợp điển hình. VN còn có Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và nhiều người khác.
Ở cấp thấp hơn, trong lịch sử ta cũng có các sứ giả được TQ nể trọng như Phùng Khắc Khoan, Lê Quí Đôn,... Những bậc tiền nhân này tiếp xúc với TQ không có mặc cảm là người nước nhỏ, mà với tư thế ngang hàng với lãnh đạo và các tầng lớp tinh hoa của TQ. Họ đường đường là những con người có văn hóa, tự tin, bản lĩnh, trí tuệ, một mặt kính trọng nước láng giềng lớn mạnh và có nền văn hóa vĩ đại nhưng mặt khác bám chặt quyền lợi của đất nước, dân tộc mình với quan điểm và chủ trương riêng trong quá trình phát triển của đất nước.
"Quân tử hòa nhi bất đồng" (lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác và tìm cách xây dựng quan hệ tốt với họ nhưng vẫn giữ chủ trương, suy nghĩ của riêng mình, không thỏa hiệp vô nguyên tắc) cũng có thể áp dụng trong quan hệ đối xử với nước láng giềng đặc biệt này.
VN ngày nay muốn được TQ nể trọng cũng cần nhiều người có những tố chất như thế.
Thứ hai, về lâu dài VN muốn được TQ và các nước khác nể trọng phải từng bước vững chắc phát triển thành một nước giàu, mạnh, văn minh, hài hòa với môi trường, với xã hội và thế giới. Rất tiếc hiện nay VN chưa có những điều kiện để đạt được mục tiêu đó. Chỉ có cải cách triệt để mới giải quyết được các vấn đề này.
So với TQ, VN nhỏ và yếu hơn. Nhưng VN có thể đi trước TQ về chất lượng thể chế nếu có quyết tâm cải cách. Và đây là điều kiện cần để VN cải thiện vị trí so với TQ.
Mới đây có một bài bình luận về VN trên báo Asahi, tờ nhật báo lớn, có uy tín tại Nhật. Tác giả bài báo, một nhà bình luận, phê phán truyền thông Nhật Bản là không tích cực đăng các tin tức về tình hình dân chủ, tự do ngôn luận tại VN, và kêu gọi người Nhật phải quan tâm mặt này khi đánh giá về nước VN. Từ khi VN nhận viện trợ từ các nước tư bản tiên tiến (1993), Nhật Bản luôn luôn là nước viện trợ nhiều nhất cho VN. Gần đây, đối với Nhật, VN cũng đã trở thành nước nhận viện trợ nhiều nhất của họ. Đầu tư của Nhật tại VN cũng tiếp tục tăng. Người Nhật nói chung nhìn VN qua những tiêu chí đó. Do đó, bài bình luận trên báo Asahi chắc chắn ảnh hưởng đến suy nghĩ của người Nhật.
Thứ ba, đối thoại giữa trí thức hai nước Việt Trung như chúng tôi tổ chức đã cho thấy một số kết quả. Nếu được tổ chức với qui mô lớn và thường xuyên hơn chắc chắn sẽ có hiệu quả tốt về lâu dài trong quan hệ hai nước. Nhà nước, doanh nghiệp và các đoàn thể khác tại VN nên tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ các chương trình đối thoại độc lập của trí thức, song song với giao lưu cấp nhà nước hay các hội nghị "quan phương".
Khác với các hội nghị "quan phương", đối thoại giữa những trí thức có quan điểm độc lập, với tinh thần khoa học, trọng sự thực sẽ là cơ sở bền vững tạo sự tin tưởng, tin cậy lâu dài.
Đặc biệt VN cần tạo điều kiện để lôi cuốn được sự quan tâm của giới trí thức không chuyên nghiên cứu về VN. Các nhà nghiên cứu về VN của TQ thường có điều kiện và có nhu cầu sang VN nhiều, có nhiều cơ hội giao lưu với học giả phía VN nhưng những trí thức nói chung thì các cơ hội này rất ít và họ cũng ít quan tâm nếu không có sự chủ động của phía VN.
 
Quá trình chuẩn bị và danh sách người tham gia trong hai cuộc đối thoại trí thức Việt Trung
Tháng 7 năm 2011 chúng tôi tổ chức hội nghị trù bị, qui mô nhỏ, mục đích làm thử, lấy kinh nghiệm để tổ chức các hội nghị lớn hơn cho những năm sau. Chúng tôi mời 2 trí thức từ VN và 2 trí thức từ Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị mỗi người chuẩn bị bản báo cáo ngắn gồm các nội dung như quan điểm, nhận định của riêng mình, và của dân chúng nước mình đối với nước đối thoại, và đâu là biện pháp để cải thiện, thúc đẩy quan hệ hai nước Việt Trung. Vì là tổ chức tại Nhật, dung kinh phí của một cơ quan Nhật, hơn nữa để cho cuộc đối thoại phong phú, chúng tôi mời thêm 2 giáo sư Nhật Bản, một chuyên về lịch sử VN và một chuyên về lịch sử TQ.
Về phía VN, chúng tôi mời giáo sư Chu Hảo, ủy viên đoàn chủ tịch Liên hiệp hội khoa học VN, Giám đốc nhà xuất bản Tri thức, và giáo sư Đỗ Tiến Sâm, Viện trưởng Viện nghiên cứu TQ thuộc Viện Khoa học xã hội VN. Anh Chu Hảo là một trong những trí thức tiêu biểu của VN hiện nay. Anh Đỗ Tiến Sâm là một trong nhũng chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc. Chúng tôi dự định mời những trí thức tiêu biểu và thuộc nhiều lớp tuổi khác nhau, không nhất thiết phải là chuyên gia về TQ (về phía TQ thì không nhất thiết mời chuyên gia về VN) nhưng cũng cần một vài người chuyên về quan hệ hai nước, nhất là khi chuẩn bị các bản báo cáo cần kiến thức chuyện môn. Về phía Trung Quốc, việc chọn lựa bước đầu khó hơn. Cuối cùng chúng tôi mời giáo sư Bộ Bình (Bu Ping), Viện trưởng Viện Sử cận đại thuộc Viện khoa học xã hội TQ và một phó giáo sư thuộc Đại học Thanh Hoa  (theo yêu cầu của đương sự chúng tôi xin không nêu tên ở đây).
Tại hội nghị trù bị, ý kiến hai bên Việt Trung về quan hệ hai nước từ thế kỷ 19 trở về trước không khác nhau mấy, nhưng về nguyên nhân của tình hình căng thẳng hiện nay thì tranh cãi khá sôi nổi. Tuy nhiên mọi người đều vui vẻ khi hội nghị kết thức và ai cũng cho rằng việc đối thoại là hữu ích và cần tiếp tục.
Trong việc chuẩn bị cho lần đối thoại chính thức tổ chức năm nay (tháng 6/2012), chúng tôi chọn 3 chủ đề xét thấy quan trọng nhất: (1) Quan hệ Việt Trung thời cổ trung đại (từ giữa thế kỷ 19 trở về trước), (2) Quan hệ Việt Trung từ cuối thế kỷ 19 đến ngày nay, và (3) Quan hệ Việt Trung được viết như thế nào trong sách giáo khoa lịch sử ở hai nước. Lần nầy mời VN và TQ mỗi nước 5 người, 3 người chuẩn bị 3 bản báo cáo về 3 chủ đề trên, 2 người còn lại có vai trò bình luận về các bản báo cáo của nước đối thoại.
Năm người phía VN, ngoài hai giáo sư Chu Hảo và Đỗ Tiến Sâm đã tham dự hội nghị trù bị, lần này thêm Phó Giáo sư Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội) phụ trách bản báo cáo về đề tài (1), đặc biệt xoay quanh vấn đề triều cống; giáo sư Nguyễn Quang Ngọc (Đại học Quốc gia Hà Nội) phụ trách viết báo cáo về đề tài (2) trong đó xoay quanh vấn đề Biển Đông; và Phó Giáo sư Đào Tố Uyên (Đại học Sư phạm Hà Nội) viết về đề tài (3).
Về phía Trung Quốc, việc chọn mời tham dự gặp khó khăn và khá mất thì giờ. Hai người tham dự hội nghị trù bị năm ngoái lần nầy không đến được với lý do không thu xếp được thì giờ. Một số trí thức chúng tôi tiếp cận thì ngại vì hình như họ không hiểu tại sao đối thoại trí thức Việt Trung lại tổ chức tại Nhật, có phải có ý đồ Nhật Việt liên kết để bao vây Trung Quốc chăng. (Điều nầy cũng dễ hiểu, nhưng sau khi tham dự hội nghị rồi thì không ai có nghi vấn nầy). Cũng có người ngại phải phát biểu ý kiến khác với quan điểm chính thống của nhà nước họ.
Tuy vậy cuối cùng chúng tôi cũng mời được 5 người, ba người chuyên nghiên cứu về VN, hai người về quan hệ quốc tế. Tiếc là không có ai phụ trách đề tài (3) nói trên. Giáo sư Phan Kim Nga, nghiên cứu về VN tại Viện Mác thuộc Viện Khoa học xã hội TQ, viết về các giai đoạn trong lịch sử quan hệ Trung Việt, bao trùm cả hai đề tài (1) và (2). Phó giáo sư Lưu Chí Cường, Đại học Dân tộc Quảng tây, viết về đề tài (2) nhưng chỉ xoay quanh quan hệ giữa ba lãnh tụ Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh. Tham dự phía TQ đặc biệt có giáo sư Vu Hướng Đông, Viện trưởng Viện nghiên cứu VN ở Trịnh Châu (Hà Nam), được biết ông là người phê phán VN rất mạnh về vấn đề Biển Đông. Một thành viên nữa là Phó giáo sư Dương Đại Khánh thuộc Đại học George Washington đang làm thỉnh giảng tại Đại học Waseda.
Trong hội nghị chính thức lần nầy chúng tôi mời 4 giáo sư Nhật tham gia, hai người chuyên về lịch sử VN (Furuta Motoo, giáo sư Đại học Tokyo, và Shiraishi Masaya, giáo sư Đại học Waseda) và hai người chuyên về lịch sử TQ (Ishii Akira, giáo sư danh dự Đại học Tokyo, và Murata Yujiro, giáo sư Đại học Tokyo). Về việc thông dịch và các việc hậu cần cho hội nghị, vì kinh phí hạn hẹp, chúng tôi nhờ các em sinh viên, nghiên cứu sinh từ VN và TQ sang du học tại Đại học Waseda.
GS. Trần Văn Thọ
Theo Thu Hà

Quan hệ Việt-Trung: Thăng trầm quan hệ Việt - Trung (kỳ 2)

Giáo sư Đỗ Tiến Sâm cho rằng, người VN đều mong muốn được sống hòa bình với nước láng giềng phương bắc nhưng luôn có tinh thần cảnh giác cao đối với các chính sách và hành động của TQ.

>> Kỳ 1: Quan hệ Việt-Trung: Bài học từ lịch sử

Tuần Việt Nam giới thiệu phần 2 cuộc trò chuyện giữa nhà báo Thu Hà và GS Trần Văn Thọ, ĐH Waseda, Nhật Bản về đối thoại trí thức Việt - Trung mới diễn ra tại Nhật.
Nhà báo Thu Hà: Thưa GS, trong lịch sử quan hệ Việt-Trung, giai đoạn thời cận hiện đại chắc là phức tạp?
GS. Trần Văn Thọ: Thời cận hiện đại đúng là có nhiều vấn đề phức tạp và có sự khác biệt nhiều giữa ý kiến của trí thức VN và TQ.
Bản báo cáo của GS Phan Kim Nga (Pan Jine), Viên Khoa học Xã hội TQ, chia quan hệ Việt Trung thành 4 giai đoạn: (1) Từ thế kỷ thứ 10 đến giữa thế kỷ 19: Quan hệ triều cống giữa nước nhỏ và nước lớn, (2) Từ đầu thế kỷ 20 đến đầu thập niên 1970: Hai nước sát cánh nhau trong việc chống thực dân cũ và mới, (3) Từ cuối thập niên 1970 đến cuối thập niên 1980: giai đoạn đối đầu, và (4) Từ 1991 đến nay là giai đoạn hợp tác toàn diện, phát triển nhanh, nhưng trong đó từ cuối năm 2007 xảy ra một số sự kiện phức tạp làm cho quan hệ hai nước có nhiều mặt căng thẳng và có khả năng phát triển theo xu hướng xấu.
Quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo hai nước là nền tảng quan trọng nhất trong việc TQ giúp VN chống Pháp và Mỹ
Nhà báo Thu Hà: Như vậy tác giả cho rằng giai đoạn 2 là giai đoạn tốt nhất và giai đoạn 3 là xấu nhất?
GS. Trần Văn Thọ: Các trí thức khác phía TQ hầu như có cùng quan điểm này. Đặc biệt nửa sau của giai đoạn 2 được xem là "vừa là đồng chí vừa là anh em".
Cùng quan điểm cho rằng giai đoạn (2) là thời đại hai nước Việt Trung có quan hệ tốt nhất, Phó giáo sư Lưu Chí Cường (Liu Zhiqing) thuộc Đại học Dân tộc Quảng Tây đặc biệt phân tích quan hệ cá nhân giữa Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Tác giả cho rằng "quan hệ cá nhân đó đã trở nên nền tảng quan trọng nhất trong việc TQ giúp VN chống Pháp và Mỹ". Bài viết của vị này rất công phu, tham khảo rất nhiều sách, báo, hồi ký, tư liệu, chủ yếu do học giả và cựu lãnh đạo đảng Cộng sản TQ viết, gồm cả những công trình nghiên cứu dựa trên tư liệu hồ sơ ngoại giao mới được công khai.
Theo giáo sư Lưu Chí Cường, quan hệ giữa các lãnh tụ hai nước bắt đầu từ năm 1922 tại Paris. Năm đó, Hồ Chí Minh kết bạn với Chu Ân Lai và giới thiệu nhiều thanh niên TQ gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Cũng theo tác giả, sau này (năm 1956) Chu Ân Lai có nói "Hồ Chí Minh là người dẫn đường cho tôi". Năm 1926 Chu Ân Lai giới thiệu Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông tại Trường đào tạo Phong trào nông dân ở Quảng Châu và từ đó quan hệ giữa Hồ Chí Minh với hai lãnh tụ của TQ ngày càng mật thiết và tin cậy nhau. Tác giả dành nhiều trang viết về sự giúp đỡ mà tác giả đánh giá là chí tình và có hiệu quả của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đối với các hoạt động của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc và Liên Xô từ giữa thập niên 1920 đến năm 1950, như thành lập VN Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (1925), thoát khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch (1942), v.v..
Còn nhiều khác biệt
GS. Trần Văn Thọ: Xin nói thêm về bản báo cáo của giáo sư Lưu Chí Cường. Trong giai đoạn VN chống Pháp 1946-1954, ngoài Nhật ký Trần Canh (cố vấn TQ trong chiến tranh chống Pháp) xuất bản năm 1984, tác giả dùng nhiều tư liệu công bố, xuất bản tại Trung Quốc trong thời gian từ khoảng năm 2000 trở về sau như bài viết "Chúng tôi cũng sùng bái Hồ Chí Minh" của Hồng Tả Quân (Kiến Thức thế giới, số 3 năm 1999), "Tình nghĩa Trung Quốc của Hồ Chí Minh" của Lý Quần Anh (Kiến thức thế giới, số 2 năm 2007), Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông của Viện Khoa học xã hội Quảng Tây (NXB Kiến thức thế giới, 2007), "Những ngày tháng cuối cùng của thủ tướng Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh" của Hồng Tả Quân (Bách niên triều, số 3, 2008), v.v..
Có lẽ trong khoảng 10 năm gần đây Trung Quốc chú trọng nghiên cứu, công bố nhiều tư liệu liên quan đến Hồ Chí Minh và quan hệ Việt Trung trong giai đoạn 1920-70. Từ các tư liệu này, Lưu Chí Cường cho rằng trong chiến tranh chống Pháp, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam chí tình và yếu tố lớn nhất là sự tin cậy, thân tình giữa Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.
Về Hội nghị Geneve, tác giả cho rằng "dưới sự thúc đẩy của Chu Ân Lai, hai nước Trung Việt đã đạt được thỏa thuận chung" phản ảnh trong nội dung của bản hiệp định và đánh giá đó là bản hiệp định hợp với tình hình thực tế lúc đó và có lợi cho VN. Từ nhận định đó tác giả không tán thành ý kiến của một học giả Đài Loan cho rằng "Hiệp định Geneve là mâu thuẫn lần thứ nhất giữa hai Đảng".
Bài viết giới thiệu nhiều giai thoại về các cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, về các cuộc đối thoại giữa Trần Canh và Hồ Chí Minh, v.v.. Có cả nhiều ảnh tư liệu về các cuộc gặp giữa các lãnh tụ hai nước. Trong phần kết luận, tác giả cho rằng phong cách cá nhân đã làm cho các lãnh đạo hai nước đối xử với nhau chân thành, rất quân tử. Cuối cùng tác giả cho rằng hiện nay quan hệ hai nước trên căn bản là hòa bình, hữu hảo nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức mà thách thức này bắt nguồn từ sự thiếu tin cậy, thiếu sự hiểu biết giữa hai bên.
Về cá nhân tôi rất mến giáo sư Lưu Chí Cường, một học giả trẻ có năng lực và thành thật trong nghiên cứu. Bản báo cáo về quan hệ cá nhân giữa Hồ Chí Minh với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai rất công phu. Tuy nhiên nghĩ tới sự phản bội ở Hội nghị Geneve và nhất là chính họ đã trực tiếp quyết định và chỉ đạo đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, ta có thể đặt nhiều nghi vấn về thái độ của họ trong quan hệ với lãnh tụ của VN. Nhưng ở hội nghị đối thoại trí thức hai nước chúng tôi không có thì giờ đi xa hơn nội dung bản báo cáo của giáo sư Lưu Chí Cường.
Nhà báo Thu Hà: Giai đoạn mà mối quan hệ giữa hai nước "vừa là đồng chí, vừa là anh em" trở nên xấu đi được giới học giả hai nước phân tích như thế nào? Thưa giáo sư?
Nói về giai đoạn xấu nhất trong quan hệ Việt Trung, một phó giáo sư của Đại học Thanh Hoa (theo yêu cầu vị này, tôi xin không nêu tên ở đây) trong hội nghị trù bị năm ngoái cho rằng giai đoạn Việt Nam theo đuổi chính sách nhất biên đảo, ngả về Liên Xô là xấu nhất. Theo vị này, VN đã nghi ngờ viện trợ của TQ trong giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ là cách nước này khống chế hơn là thực tâm giúp.
Vấn đề Campuchia cũng là một trở ngại làm quan hệ hai nước xấu đi.
Nhà báo Thu Hà: Đó là ý kiến riêng của trí thức Trung Quốc, vậy trí thức Việt Nam đã phản biện như thế nào? Thưa Giáo sư?
GS. Trần Văn Thọ: Giáo sư Chu Hảo cho rằng, trên bản chất, quan hệ Việt Trung chỉ cần chia ra 3 giai đoạn:
1) Thời kỳ chế độ quân chủ của VN từ năm 938 đến năm 1884 mà nét đặc trưng là quan hệ triều cống của nước nhỏ đối với nước lớn.
2) Thời kỳ thuộc địa (là chủ yếu) của cả hai nước từ 1885 đến 1949, giai đoạn này hai quốc gia ít có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
3) Thời kỳ quan hệ giữa hai nhà nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1950 đến nay. Đây là một giai đoạn hết sức đặc biệt: trên danh nghĩa thì "vừa là đồng chí vừa là anh em", nhưng trên thực tế thì có rất nhiều mảng tối được đặc trưng bởi sự không thành thật, nói một đằng làm một nẻo.
Giáo sư Chu Hảo nhấn mạnh Việt Nam luôn ghi nhớ sự giúp đỡ chí tình, kể cả bằng xương máu của nhân dân Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc cảu Việt Nam. Đồng thời, ông cũng không quên nhắc một thực tế khác, khi có lúc Việt Nam đã phải nếm vị đắng trong quan hệ với nước này, như đàm phán Geneva 1954, hay gặp gỡ Mỹ - Trung 1972.
Những vấn đề mới trong quan hệ Việt - Trung, trong đó có nhập siêu lớn của VN với TQ làm quan hệ căng thẳng
Quan hệ "16 chữ" và "4 tốt", nhưng không phải có những lúc, thực tế trái với tinh thần của những khẩu hiệu ngoại giao tốt đẹp ấy.
Nhà báo Thu Hà: Cuối cùng, hai bên có tìm được tiếng nói chung khi lý giải lịch sử hay không?
GS. Trần Văn Thọ: Có lẽ nhiều người phía TQ không nhất trí với quan điểm này nhưng cũng không có tích cực phản luận, ngoại trừ ý kiến của phó giáo sư Lưu Chí Cường cho rằng sự phát triển nhanh trong quan hệ ngoại thương và đầu tư trong nhiều năm qua giữa hai nước là kết quả của tinh thần "hợp tác toàn diện", 4 trong 16 chữ.
Còn giáo sư Phan Kim Nga thì cho rằng những sự kiện phức tạp gần đây trong quan hệ hai nước là do những nguyên nhân khác, cụ thể như sau: Tranh chấp trên biển (hai nước đều đưa ra những cơ sở lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình, có sự khác nhau trong lý giải về Luật biển công ước năm 1982), kinh tế và thương mại (nhập siêu của VN đối với TQ quá lớn), nhận thức về lịch sử (nhất là lịch sử cận hiện đại), và các thách thức mới.
Nhà báo Thu Hà: Các thách thức mới ấy là gì, theo quan điểm của vị học giả Trung Quốc, thưa Giáo sư?
GS. Trần Văn Thọ: Trong những thách thức mới, giáo sư Phan Kim Nga nhấn mạnh bốn điểm. Một là, khi thực lực kinh tế hai nước tăng lên, ý thức dân tộc cũng tăng làm cho tranh chấp chủ quyền nổi lên.
Hai là, trụ cột quan trọng để giữ gìn quan hệ tốt đẹp của hai nước là ý thức hệ chủ nghĩa cộng sản nhưng bây giờ suy nghĩ của người dân hai nước có khuynh hướng khác trước nên trụ cột đó dần dần mất đi.
Ba là, cơ cấu dân số Việt Nam thay đổi, tỉ lệ người sinh ra sau năm 1975 chiếm phần lớn và họ dần dần không biết đến "hình ảnh nhân dân hai nước Trung Việt cùng đổ máu, giúp đỡ nhau chống thực dân và xây đắp nên tình hữu nghị vừa là đồng chí vừa là anh em".
Bốn là, theo vị học giả này, khi kinh tế phát triển, tài nguyên sẽ cạn kiệt và ý thức bảo vệ môi trường tăng lên nên VN có khuynh hướng thúc đẩy phát triển hướng ra biển, làm cho tranh chấp trên biển tăng lên.
Từ phân tích này, tác giả cho rằng cần phải tìm kiếm, xây dựng những trụ cột mới để cho quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp.
Lưu Chí Cường và Phan Kim Nga là những nhà nghiên cứu về Việt Nam, viết và nói tiếng Việt giỏi, theo tôi họ là những trí thức có lương tâm. Ta thấy họ cố gắng lý giải vấn đề theo hướng tích cực, cố gắng tìm những yếu tố khách quan để giải thích tình trạng hiện nay và tránh phân tích các yếu tố liên quan đến chiến lược, chính sách của lãnh đạo Trung Quốc.
Nhà báo Thu Hà: Như vậy là trí thức Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn rất khác nhau khi nhìn lại giai đoạn kém hữu hảo trong mối quan hệ giữa hai quốc gia.
GS. Trần Văn Thọ: Liên quan đến vấn đề này, trong hội nghị trù bị năm ngoái, giáo sư Đỗ Tiến Sâm (Viện Khoa học Xã hội VN) cho rằng, do yếu tố lịch sử và địa lý, mọi người VN đều mong muốn được sống hòa bình với nước láng giềng phương bắc nhưng luôn có tinh thần cảnh giác cao đối với các chính sách và hành động của TQ.
Theo giáo sư Sâm, mặc dù khi bình thường hóa quan hệ năm 1991, lãnh đạo hai nước đã chủ trương "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai", sau đó lần lượt đề ra "phương châm 16 chữ", "tinh thần bốn tốt" và gần đây đặt quan hệ "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện", nhưng sự tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước chưa đủ tốt, nhất là người VN vẫn cảnh giác đối với TQ khi thấy nhiều sự kiện trên thực tế đi ngược lại các phương châm tốt đẹp ấy. Đặc biệt các dự án hợp tác của TQ tại VN và các hành động của TQ ở Biển Đông gây nên bức xúc trong dư luận tại VN.
Đúng là có sự khác biệt về nhận thức giữa trí thức VN và trí thức TQ về những chủ trương, phương châm có tính cách khẩu hiệu hiện nay.
Mời đón đọc kỳ 3: Chủ quyền biển Đông: Ta phải tự quyết định số phận của mình